Thảo luận tại Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh) sáng 6/8, các ĐBQH tán thành việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh. Tuy nhiên, các đại biểu nhấn mạnh, việc thay đổi đơn vị hành chính phải tạo ra năng lực phát triển mới, nâng cao chất lượng quản trị và đời sống Nhân dân. Đối với chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các đại biểu đề nghị làm rõ nguồn vốn, tiến độ, trách nhiệm thực hiện, cơ chế huy động nguồn lực xã hội, chuyển giao công nghệ và bảo đảm sinh kế cho người dân.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Thái điều hành thảo luận Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển
Thay đổi đơn vị hành chính phải tạo ra năng lực phát triển mới
Thảo luận về việc thành lập thành phố Quảng Ninh, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, khi Quốc hội xem xét vấn nội dung ý nghĩa chiến lược như thành lập thành phố Quảng Ninh, vấn đề đặt ra không chỉ là địa phương đã đủ điều kiện hay chưa, mà quan trọng hơn là sau khi trở thành thành phố, Quảng Ninh sẽ có những thay đổi về chất như thế nào để tạo ra năng lực phát triển mới.

ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Theo đại biểu, trước hết là chuyển từ một tỉnh có nhiều đô thị sang một hệ sinh thái đô thị đa trung tâm. Vấn đề đặt ra là phải kết nối những lợi thế riêng lẻ thành sức mạnh chung của một không gian phát triển thống nhất. Vân Đồn không chỉ là sân bay của riêng Vân Đồn; Hạ Long không chỉ là điểm đến của riêng Hạ Long; Móng Cái cũng không chỉ là cửa khẩu của riêng Móng Cái. Tất cả phải trở thành những cấu phần có khả năng hỗ trợ lẫn nhau trong một thành phố lớn.
“Địa giới hành chính có thể được giữ nguyên, nhưng không gian kinh tế cần được tổ chức lại. Nếu không tạo được sự liên kết và cộng hưởng giữa các trung tâm, việc thành lập thành phố mới chỉ làm thay đổi đơn vị hành chính, chưa tạo ra một cấu trúc phát triển mới” - ĐBQH Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.

Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển
Chuyển đổi thứ hai là từ đô thị hóa theo chiều rộng sang đô thị hóa tạo giá trị. Theo đại biểu, Quảng Ninh đang đứng trước mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển ngành than, công nghiệp, cảng biển, logistics với yêu cầu bảo tồn Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, hệ thống biển đảo và cảnh quan. Vì vậy, thành phố Quảng Ninh không thể tiếp tục phát triển chủ yếu dựa vào mở rộng đất đô thị, bất động sản, khai thác tài nguyên và đầu tư hạ tầng. Các động lực mới phải đến nhiều hơn từ kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế di sản, logistics hiện đại, dịch vụ chất lượng cao, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chuyển đổi thứ ba là từ quản trị hành chính tương đối đồng nhất sang quản trị đô thị đa dạng, phân quyền và dựa trên dữ liệu. Thành phố dự kiến có 30 phường nhưng đồng thời còn 22 xã và 2 đặc khu. Yêu cầu quản trị tại khu vực trung tâm Hạ Long rất khác với một xã miền núi, biên giới; Móng Cái có đặc điểm khác với địa bàn khai khoáng; Vân Đồn với tính chất đặc khu cũng cần không gian phát triển và cơ chế quản trị riêng.

Các ĐBQH tỉnh Tây Ninh tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu Bùi Văn Dũng cũng đề nghị lượng hóa rõ “giá trị gia tăng của thể chế”. Đề án cần xác định các chỉ tiêu để sau 3 - 5 năm có thể kiểm chứng hiệu quả, như thời gian xử lý thủ tục đầu tư được rút ngắn bao nhiêu; chi phí logistics giảm như thế nào; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình tăng ra sao; tỷ trọng kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế số có chuyển biến gì; khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa khu vực trung tâm với miền núi, biên giới, hải đảo được thu hẹp đến đâu.
Đối với việc thành lập thành phố Bắc Ninh, ĐBQH Chu Mạnh Hùng (Tây Ninh) cho rằng, qua hồ sơ Đề án và báo cáo của các cơ quan chức năng, Bắc Ninh đã đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện để chuyển đổi từ mô hình tỉnh sang thành phố trực thuộc Trung ương. Điều này được thể hiện qua tốc độ đô thị hóa, cơ cấu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, cũng như đóng góp và vị thế phát triển của địa phương đối với đất nước và khu vực.

ĐBQH Chu Mạnh Hùng (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu thống nhất với quan điểm, việc chuyển từ đơn vị hành chính cấp tỉnh sang thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là thay đổi tên gọi hay địa vị pháp lý mà phải tạo ra sự thay đổi trong mô hình quản trị địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ổn định hơn và nâng cao đời sống Nhân dân.
Sau khi Đề án được Quốc hội thông qua, một trong những nhiệm vụ quan trọng là thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Bắc Ninh có những đô thị, khu vực công nghiệp phát triển mạnh nhưng cũng có các địa bàn miền núi, trong đó có khu vực huyện Yên Thế trước đây ở phía Bắc của tỉnh.
Đại biểu Chu Mạnh Hùng cũng lưu ý những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp. Một trong những lợi thế nổi bật của Bắc Ninh là khả năng thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp. Tuy nhiên, song hành với phát triển công nghiệp là hàng loạt vấn đề cần giải quyết, gồm sinh kế của người dân, ô nhiễm môi trường, sự ổn định của lực lượng lao động và yêu cầu về an sinh xã hội tại những địa bàn tập trung đông công nhân.
Do đó, phát triển công nghiệp là lợi thế quan trọng để Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng chính quyền thành phố trong tương lai phải đồng thời giải quyết những mặt trái của quá trình phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư. Mục tiêu cuối cùng phải là tăng trưởng bền vững, bảo đảm ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển
Khẳng định ủng hộ việc thành lập thành phố Bắc Ninh và thành phố Quảng Ninh, các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa và Tây Ninh đề nghị các địa phương ưu tiên giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra, thực hiện đúng mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững và bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả của quá trình chuyển đổi từ tỉnh sang thành phố trực thuộc Trung ương.
Làm rõ nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm thực hiện các dự án trọng điểm
Tán thành chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các ĐBQH tại Tổ 3 đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ, Bộ Xây dựng và các địa phương trong việc chuẩn bị hồ sơ hai dự án quan trọng quốc gia trong thời gian ngắn, với khối lượng công việc rất lớn.
Theo các đại biểu, cơ sở chính trị đối với Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội đã được xác định rõ. Trong khi đó, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng là công trình chiến lược, kết nối một trong những hành lang kinh tế quan trọng bậc nhất của đất nước. Vì vậy, vấn đề cần đặc biệt quan tâm là tạo lập hành lang pháp lý thuận lợi, vững chắc để tổ chức thực hiện hiệu quả các dự án sau khi được Quốc hội thông qua.
Đối với hình thức đầu tư Dự án đường Vành đai 5, hồ sơ xác định dự án được thực hiện theo hình thức đầu tư công, đồng thời giao cơ quan chủ quản tiếp tục nghiên cứu, ưu tiên huy động nguồn lực theo phương thức đối tác công tư trong quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Đây là cách tiếp cận thận trọng, hợp lý, vừa bảo đảm dự án được triển khai đúng tiến độ, vừa mở ra khả năng huy động nguồn lực xã hội, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, theo ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa), để chủ trương nghiên cứu phương thức đối tác công tư đi vào thực chất, Chính phủ cần chỉ đạo xây dựng rõ các tiêu chí, nguyên tắc và thời hạn xác định tính khả thi của phương thức này đối với từng dự án thành phần.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Nếu thiếu những căn cứ cụ thể, cơ quan chủ quản có thể lúng túng, e ngại trách nhiệm khi lựa chọn hình thức đầu tư. Khi đó, phương án đầu tư công có thể được lựa chọn do thuận tiện hơn, trong khi mục tiêu huy động nguồn lực xã hội khó đạt được như kỳ vọng. Việc xây dựng tiêu chí minh bạch, rõ ràng không chỉ tạo cơ sở để cán bộ dám quyết định, dám chịu trách nhiệm mà còn giúp các nhà đầu tư yên tâm bỏ chi phí nghiên cứu và tiếp cận dự án.
Đại biểu cũng đề nghị xác định rõ tỷ lệ tham gia của ngân sách trung ương và ngân sách từng địa phương, gắn với cam kết của HĐND các địa phương có tuyến đường đi qua. Dự án được triển khai trên địa bàn 7 địa phương, do đó, việc thống nhất trách nhiệm bố trí nguồn lực ngay từ đầu sẽ giúp Chính phủ chủ động điều hành, tránh tình trạng địa phương không cân đối được vốn, dẫn đến ngân sách trung ương phải bổ sung.
Đối với 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt được đề xuất áp dụng cho Dự án đường Vành đai 5, đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, nhiều cơ chế đã được Quốc hội cho phép áp dụng và phát huy hiệu quả tại các dự án quan trọng quốc gia trước đây. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Chính phủ và các địa phương cũng phù hợp với chủ trương hiện nay.

Các ĐBQH tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển
Tuy nhiên, đối với quy định về thẩm quyền điều chỉnh hình thức đầu tư của các dự án thành phần, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm tính thống nhất về kỹ thuật lập pháp. Dự thảo đang thiết kế hai cơ chế khác nhau: một mặt giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; mặt khác, thẩm quyền điều chỉnh hình thức đầu tư lại được giao trực tiếp cho Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Theo đại biểu, cơ quan soạn thảo cần giải trình rõ cơ sở phân định thẩm quyền. Dù lựa chọn phương án nào, phân cấp, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, tạo cơ sở pháp lý để cán bộ yên tâm quyết định, đồng thời thuận lợi cho hoạt động thanh tra, kiểm toán và quyết toán sau này.
Góp ý với chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5, ĐBQH Hoàng Quang Hàm (Tây Ninh) đề nghị dự thảo nghị quyết phải cụ thể hơn về tiến độ, nguồn vốn và trách nhiệm thực hiện, qua đó tạo cơ sở để Quốc hội giám sát.

ĐBQH Hoàng Quang Hàm (Tây Ninh) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển
Theo đại biểu, dự án có chiều dài 349km, đi qua 7 địa phương nhưng trong giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên triển khai tại 4 địa phương. Việc phân đoạn đầu tư chưa được làm rõ, trong khi các mốc “cơ bản hoàn thành năm 2030” và “phấn đấu hoàn thành toàn tuyến năm 2035” còn có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau. Vì vậy, cần xác định rõ thời gian hoàn thành từng dự án thành phần, khả năng cân đối vốn của Trung ương và địa phương, tránh kéo dài tiến độ và phải điều chỉnh vốn nhiều lần.
ĐBQH Đỗ Hoàng Việt (Tây Ninh) cũng thống nhất với sự cần thiết đầu tư đường Vành đai 5, đại biểu đánh giá, đây là dự án quan trọng quốc gia, có ý nghĩa chiến lược trong phát triển hạ tầng, tăng cường liên kết vùng và tạo động lực tăng trưởng mới.

ĐBQH Đỗ Hoàng Việt (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu đề nghị các khu tái định cư phải được đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu, gồm trường học, cơ sở y tế và thiết chế văn hóa, trước khi bố trí người dân đến ở. Điều này không chỉ bảo đảm điều kiện sống cơ bản mà còn giúp người dân sớm ổn định cuộc sống sau khi di chuyển chỗ ở. Bên cạnh đó, bổ sung nội dung đánh giá tác động xã hội vào báo cáo hằng năm trình Quốc hội. Báo cáo cần phản ánh đầy đủ tình hình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, kết quả ổn định đời sống và việc làm của người dân, qua đó giúp Quốc hội giám sát toàn diện dự án, không chỉ về tiến độ xây dựng và giải ngân vốn.
Việc khai thác quỹ đất hai bên tuyến đường để phát triển đô thị, công nghiệp cũng phải gắn với quy hoạch đồng bộ trường học, cơ sở y tế, nhà ở xã hội và các thiết chế phục vụ đời sống. Theo đại biểu, thành công của dự án không chỉ được đo bằng chiều dài tuyến đường hay tốc độ giải ngân, mà còn phụ thuộc vào mức độ đồng thuận của người dân và khả năng hình thành những không gian phát triển bền vững.
Đối với việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các ĐBQH đề nghị bổ sung các cơ chế, chính sách cụ thể về tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực đường sắt. Hiện số lượng cơ sở đào tạo chuyên ngành đường sắt còn ít, quy mô nhỏ, chương trình đào tạo chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ đường sắt hiện đại. Nếu công tác đào tạo được triển khai ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, khi tuyến đường sắt đi vào khai thác, Việt Nam sẽ có đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên vận hành, bảo trì của chính mình. Việc chủ động nguồn nhân lực sẽ giảm phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài và tiết kiệm chi phí cho ngân sách trong quá trình quản lý, vận hành, bảo dưỡng tuyến đường.
Bên cạnh nguồn nhân lực, các ĐBQH cũng đặc biệt quan tâm đến sinh kế của người dân tại những địa bàn có tuyến đường sắt đi qua, nhất là các khu vực chịu tác động bởi việc điều chỉnh phạm vi, hướng tuyến và thu hồi đất. Các đại biểu đề nghị tính toán phương án sử dụng và giải quyết việc làm lâu dài cho lực lượng lao động phục vụ dự án. Trong thời gian thi công, dự án có thể tạo ra nhiều việc làm và thu nhập, nhưng khi dự án hoàn thành, nhu cầu đối với một bộ phận lao động sẽ giảm. Vì vậy, phương án đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và giải quyết việc làm sau giai đoạn thi công phải được chuẩn bị ngay từ đầu.