Các nội dung sửa đổi, bổ sung theo hồ sơ dự án Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi)[1] đã cơ bản bám sát 02 mục đích, 03 quan điểm và 05 chính sách lớn về sửa đổi, bổ sung Luật; bảo đảm tính thống nhất với các quy định mới của Hiến pháp và các luật về tổ chức, bộ máy nhà nước, đặc biệt là việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, sắp xếp lại đơn vị hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng luật chỉ quy định những chính sách lớn, những nội dung có tính nguyên tắc, ổn định thuộc thẩm quyền quy định của Quốc hội; bảo đảm thực hiện nghiêm túc Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

(Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát, Ảnh: VPQH)

Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi) và các dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn và quy định chi tiết nhưng nội dung liên quan, người viết có một số ý kiến trao đổi như sau:

1. Dự thảo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi)

Để hoàn thiện dự án Luật trình Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 10 tới đây, theo quan điểm của người viết, dự thảo Luật cần được tiếp tục rà soát, bảo đảm quán triệt đúng quan điểm luật chỉ quy định những chính sách lớn, những nội dung có tính nguyên tắc, ổn định thuộc thẩm quyền quy định của Quốc hội, nhất là đối với các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Ví dụ:

(1) Tại khoản 2 Điều 80 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản”. Như vậy, Hiến pháp đã quy định quyền của Quốc hội cho người bị chất vấn trả lời bằng văn bản trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, tại dự thảo Luật chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền này của Quốc hội và quy định về trách nhiệm trả lời trực tiếp của người bị chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay (hiện được thể hiện tại dự thảo Nghị quyết của UBTVQH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH) là chưa phù hợp.

(2) Tại Điều 78 Hiến pháp năm 2013 quy định “Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định”. Như vậy, Quốc hội quyết định thành lập Ủy ban lâm thời. Tuy nhiên, tại điểm e khoản 1 Điều 14 dự thảo Luật chỉ quy định Quốc hội xem xét báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập; còn quy định cụ thể về việc Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định tại Nghị quyết quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH (Điều 55[2]).

2. Dự thảo Nghị quyết của UBTVQH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH

2.1. Về tổ chức Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội (Điều 40)

- Tại khoản 1 Điều 40 quy định: “… Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chủ trì, phối hợp với Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát chuẩn bị dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, gửi xin ý kiến Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, thông qua.”

Theo quan điểm người viết, quy định về chủ thể phối hợp như trên là chưa thực sự phù hợp, đề nghị chỉnh lý theo hướng: “… Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chủ trì, phối hợp với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát chuẩn bị dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, gửi xin ý kiến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, thông qua.”

- Tại điểm e khoản 3 Điều 40 quy định Đoàn giám sát có quyền: “Xem xét báo cáo của cơ quan, … hoặc yêu cầu  Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát”. Tuy nhiên, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban là các cơ quan của Quốc hội, do đó, việc quy định Đoàn giám sát chuyên đề yêu cầu Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát” như trên là chưa phù hợp.

Để phù hợp với cơ cấu, thẩm quyền của các cơ quan của Quốc hội, tại điểm e khoản 3, đề nghị nghiên cứu sửa quy định về quyền của Đoàn giám sát “yêu cầu Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát” thành đề nghị Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát”.

2.2. Về Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát chuyên đề do Quốc hội thành lập (Điều 41)

Tại khoản 4 Điều 41 quy định:

“Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát giúp Quốc hội, Đoàn giám sát của Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 Điều 40 của Nghị quyết này và điểm đ khoản 2 Điều này.

Văn phòng Quốc hội bảo đảm kinh phí, phương tiện và điều kiện cần thiết khác, tổ chức phục vụ hoạt động của Đoàn giám sát của Quốc hội.”

Quy định tại khoản 4 về trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội giúp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn giám sát và trách nhiệm của Văn phòng Quốc hội bảo đảm kinh phí, phương tiện và điều kiện cần thiết khác, tổ chức phục vụ hoạt động của Đoàn giám sát của Quốc hội tại Điều 41 là chưa phù hợp với nội hàm của Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát chuyên đề do Quốc hội thành lập do trình tự Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội.

2.3. Về tổ chức Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội (Điều 40, 43, 46, 48)

Tại các khoản 1 Điều 43, khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 đều có quy định về việc mời đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm, am hiểu về nội dung chuyên đề giám sát… tham gia hoạt động của Đoàn giám sát. Tuy nhiên, không có quy định cụ thể về chủ thể mời là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội hay là do Đoàn giám sát. Do đó, đề nghị bổ sung quy định cụ thể về thẩm quyền mời để bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện hoạt động của Đoàn giám sát.

Đồng thời, đề nghị bổ sung quy định về thành phần của Đoàn giám sát của Quốc hội: Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chuyên đề giám sát, đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan có thể được mời tham gia hoạt động của Đoàn giám sát.

2.4. Về Đoàn đại biểu Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát chuyên đề (Điều 49)

- Tại Điều 49 quy định cụ thể Đoàn đại biểu Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát chuyên đề thông qua hình thức tổ chức họp. Tuy nhiên, để bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, đề nghị cân nhắc quy định hình thức Đoàn đại biểu Quốc hội xem xét báo cáo của Đoàn giám sát chuyên đề có thể thông qua tổ chức họp hoặc cho ý kiến bằng văn bản.

- Tại khoản 1 Điều 49 quy định “… Hồ sơ trình Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 41 của Nghị quyết này”.

Theo khoản 1 Điều 41 quy định hồ sơ trình bao gồm: (1) Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; (2) Dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề; (3) Báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; tài liệu minh họa và các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

Tuy nhiên, cũng tại khoản 3 Điều 49 quy định Đoàn đại biểu Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc ban hành kết luận giám sát, kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Như vậy, Đoàn đại biểu Quốc hội không có thẩm quyền ban hành nghị quyết giám sát chuyên đề. Do đó, đề nghị chỉnh lý để bảo đảm chính xác.

2.5. Về giám sát việc tiếp thu ý kiến góp ý vào dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết (mục 6)

Theo quan điểm người viết, đây là nội dung mới quy định cụ thể về việc tiếp thu ý kiến góp ý vào dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết thể hiên sự quan tâm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với công tác này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Luật và các dự thảo Nghị quyết của UBTVQH trong hồ sơ dự án Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND, đề nghị nghiên cứu, cân nhắc chuyển quy định về giám sát việc tiếp thu ý kiến góp ý bào dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết tại mục 6 của Nghị quyết quy định chi tiết và hướng dẫn về hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH sang quy định tại Nghị quyết quy định chi tiết và hướng dẫn về giám sát văn bản quy phạm pháp luật bởi những lý do sau:

Một là, tại khoản 7 Điều 2 dự thảo Luật có quy định “Giám sát văn bản quy phạm pháp luật là việc chủ thể giám sát quy định tại Luật này xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật; tính kịp thời, đầy đủ và việc tuân thủ về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. Bên cạnh đó, tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến góp ý chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như tại: khoản 4 Điều 6, điểm g khoản 2 và khoản 5 Điều 31, điểm d khoản 3 Điều 33, khoản 5 Điều 34, khoản 3 Điều 35, khoản 5 Điều 38… Như vậy, việc tiếp thu ý kiến góp ý vào các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết là một bước trong trình tự, thủ tục ban hành văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Hai là, tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết này có quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND về giám sát văn bản quy phạm pháp luật.

Ba là, theo dự thảo Nghị quyết quy định chi tiết và hướng dẫn về giám sát văn bản quy phạm pháp luật, tại điểm d khoản 2 Điều 13 có quy định trách nhiệm của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm xem xét, đánh giá về việc bảo đảm thực hiện đầy đủ các bước trong trình tự, thủ tục soạn thảo, thông qua, công bố văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

 

[1] Dự thảo xin ý kiến tại Công văn số 5271/TTKQH-DNGS ngày 19/8/2025 của Tổng Thư ký Quốc hội về việc xin ý kiến về hồ sơ dự án Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi).

[2] Điều 55. Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời

Khi xét thấy cần thiết, theo đề nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định.

Nghị quyết của Quốc hội về thành lập Ủy ban lâm thời phải xác định rõ đối tượng điều tra, phạm vi điều tra, nội dung, dự kiến thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban lâm thời.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:


 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Bình chọn
    Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa
    651 người đã bình chọn
    Thống kê truy cập
    Thống kê: 6.343.992
    Trong năm: 1.835.807
    Trong tháng: 194.628
    Trong tuần: 47.517
    Trong ngày: 3.856
    Online: 112
    Zalo