Hiến pháp năm 2013 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định liên quan đến nhà giáo vẫn đang phân tán ở nhiều văn bản luật khác nhau (Luật Giáo dục, Luật Viên chức, Luật Lao động…), chưa có văn bản pháp lý nào chuyên biệt quy định rõ ràng về vị thế, quyền, nghĩa vụ, chuẩn mực nghề nghiệp, cơ chế bảo vệ, đãi ngộ và trách nhiệm của nhà giáo.

Toàn cảnh kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV

Trong bối cảnh đội ngũ nhà giáo đang đối mặt với nhiều áp lực – về hành chính, về thu nhập, về thay đổi chương trình, phương pháp dạy học – việc ban hành Luật Nhà giáo không chỉ là yêu cầu về mặt pháp lý mà còn thể hiện sự tôn trọng, khẳng định giá trị nghề giáo và kiến tạo môi trường pháp lý để bảo vệ, phát triển đội ngũ này một cách toàn diện.

Dự thảo Luật Nhà giáo được xây dựng nhằm cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay. Việc ban hành Luật là rất cần thiết, thể hiện sự ghi nhận, tôn vinh và định vị rõ vai trò của nhà giáo trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm tính quy phạm, đồng bộ và khả thi, dự thảo Luật cần chỉnh lý, bổ sung thêm một số vấn đề cụ thể như sau:

Thứ Nhất, về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 của Dự thảo cần được mở rộng để phản ánh đầy đủ nội dung điều chỉnh, nhất là việc quản lý chất lượng và đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà giáo. Đây là nội dung xuyên suốt trong nhiều điều khoản của luật, đồng thời cũng là xu hướng quản lý hiện đại. Do đó, kiến nghị bổ sung cụm từ: “quản lý chất lượng và đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà giáo” để đảm bảo sự nhất quán và bao quát chức năng điều chỉnh của luật, cụ thể:

“Luật này quy định về hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ của nhà giáo; chức danh, chuẩn nghề nghiệp nhà giáo; tuyển dụng, sử dụng, quản lý chất lượng và đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà giáo; chính sách tiền lương, đãi ngộ đối với nhà giáo; đào tạo, bồi dưỡng và hợp tác quốc tế đối với nhà giáo; tôn vinh, khen thưởng và xử lý vi phạm đối với nhà giáo”

Thứ Hai, về Hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo (Điều 7)

Tại khoản 3 dự thảo Luật quy định: “Hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này được thực hiện theo năm học hoặc khóa học.”

Đề nghị xem xét lược bỏ quy định tại khoản 3 nêu trên, vì quy định này không bảo đảm tính hợp lý, tính bao quát và không cần thiết về mặt lập pháp, cụ thể:

- Nếu đã quy định thời điểm thực hiện đối với điểm a và b khoản 2, thì về logic pháp lý, cũng cần xác định thời điểm thực hiện đối với các điểm còn lại trong cùng khoản 2. Việc chỉ quy định riêng cho một phần nội dung có thể gây hiểu nhầm là các nội dung còn lại không chịu sự điều chỉnh về thời điểm thực hiện, từ đó dẫn đến sự thiếu nhất quán trong áp dụng pháp luật.

- Nội dung quy định tại khoản 3 là không cần thiết về mặt thực tiễn. Trên thực tế, các hoạt động tại điểm a (giảng dạy, giáo dục) và điểm b (xây dựng kế hoạch giảng dạy, giáo dục...) luôn được lồng ghép trong kế hoạch công tác năm học hoặc kế hoạch đào tạo do các cơ sở giáo dục xây dựng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành.

- Quy định thời điểm thực hiện hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo là vấn đề mang tính kỹ thuật, thuộc thẩm quyền điều hành, hướng dẫn chi tiết của cơ quan thuộc Chính phủ, không nhất thiết phải quy định trong văn bản luật, nhằm tránh làm giảm tính linh hoạt và gây chồng chéo giữa luật và văn bản dưới luật.

Thứ Ba, về tuyển dụng nhà giáo (Điều 14)

Việc giao thẩm quyền tuyển dụng cho ngành giáo dục - đây là bước đi đúng đắn, đảm bảo chủ động trong cơ cấu, chất lượng đội ngũ. Tuy nhiên, cần có quy định rõ hơn về cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục với chính quyền địa phương, nhất là trong việc bảo đảm cân đối ngân sách chi trả lương, biên chế và giải quyết mâu thuẫn thừa - thiếu cục bộ.

Thứ Tư, về Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo (Điều 30)

Điều 30 của Dự thảo Luật đã quy định cụ thể trình độ chuẩn đối với từng đối tượng nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc phân loại rõ ràng theo từng cấp học, ngành nghề là phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, một số nội dung vẫn cần được rà soát, bổ sung để phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn và đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện, cụ thể:

- Hiện nay, ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, số lượng giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn vẫn còn tương đối lớn, đặc biệt ở bậc mầm non và tiểu học. Vì vậy, đề nghị Dự thảo Luật quy định rõ về lộ trình thực hiện nâng chuẩn trình độ đối với nhà giáo đang công tác nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các đối tượng này về thời gian học, học phí, và chế độ lương trong thời gian đào tạo.

- Khoản 2 quy định người có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp có thể trở thành giáo viên phổ thông nếu có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên, cần bổ sung các yêu cầu về kiểm định chất lượng đào tạo và công nhận chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, tránh tình trạng chứng chỉ hình thức, không phản ánh đúng năng lực sư phạm của người học.

- Khoản 3 Điều 30 dự thảo quy định: "Có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy trình độ đại học; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy, hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ".

Đề nghị sửa đổi, bổ sung lại cho phù hợp như sau: "Có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy trình độ đại học; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ".

Ngoài ra, đề nghị Dự thảo bổ sung nguyên tắc chung tại Điều 30 theo hướng: “Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo được xác định phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế, và được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển.” Quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc cập nhật, nâng cấp chuẩn đào tạo trong tương lai mà không cần sửa đổi luật.

Thứ Năm, về Quản lý nhà nước về nhà giáo (Điều 42)

Về bố cục và kỹ thuật lập pháp, quy định tại Điều 42 còn mang tính liệt kê hành chính, chưa thể hiện rõ mối quan hệ quản lý theo trục dọc giữa Trung ương và địa phương cũng như trục ngang giữa các bộ, ngành có liên quan. Một số cụm từ như “quản lý nhà nước về nhà giáo” lặp lại nhiều lần, gây rối thông tin và khó theo dõi. Do đó, đề nghị cấu trúc lại điều luật theo hướng tách rõ các chủ thể quản lý, thống nhất diễn đạt, tránh lặp từ, đồng thời nhấn mạnh phân công, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.

Về nội dung pháp lý và thực tiễn, khoản 3 và khoản 4 nên gộp thành một khoản chung về trách nhiệm của các cơ quan khác ngoài Bộ GD&ĐT, trong đó quy định rõ hơn về trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong quản lý biên chế, vị trí việc làm, quy hoạch đội ngũ; Bộ Tài chính bảo đảm ngân sách chính sách tiền lương, đãi ngộ nhà giáo; UBND các cấp trực tiếp thực hiện tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và giải quyết chính sách đối với nhà giáo tại địa phương. Do đó, đề nghị sửa lại như sau:

“3. Các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về nhà giáo; bảo đảm thực hiện thống nhất các quy định của Luật này tại các địa phương, lĩnh vực do mình phụ trách.”

Luật Nhà giáo là bước tiến quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ nhà giáo, nâng cao vị thế nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Do đó, cần xây dựng luật với tư duy hiện đại, thực tiễn và bảo đảm đồng bộ pháp luật.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:


 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Bình chọn
    Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa
    651 người đã bình chọn
    Thống kê truy cập
    Thống kê: 6.343.106
    Trong năm: 1.835.807
    Trong tháng: 194.628
    Trong tuần: 47.517
    Trong ngày: 2.970
    Online: 110
    Zalo