Thảo luận tại Tổ 13 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Gia Lai) về Dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), các đại biểu đề nghị lấy quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em làm nguyên tắc xuyên suốt; ưu tiên bảo vệ quyền được sống trong gia đình gốc, nghiêm cấm mọi hành vi môi giới nhận con nuôi trái pháp luật; đồng thời, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc, tăng cường giám sát sau nhận nuôi để mỗi trẻ em được sống trong môi trường gia đình an toàn, ổn định và phát triển lâu dài.
Nghiêm cấm mọi hành vi môi giới trái pháp luật, bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi
Phát biểu thảo luận tại tổ, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh tán thành cao với việc Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) tại Kỳ họp này. Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, việc sửa đổi Luật không chỉ nhằm tháo gỡ những bất cập trong thực tiễn thi hành mà còn góp phần thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các vấn đề xã hội, nhất là những nhóm yếu thế.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đặc biệt, việc sửa đổi Luật nhằm kịp thời thực hiện kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế và các ban, bộ, ngành Trung ương về công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trong đó, xác định mục tiêu chuyển dần từ mô hình chăm sóc tập trung sang chăm sóc trong môi trường gia đình và cộng đồng, theo hướng nhà nhỏ, nhóm nhỏ, bảo đảm trẻ em có người chăm sóc ổn định, tạo môi trường gần gũi như gia đình, phù hợp với tâm lý trẻ em.
Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, sửa đổi Luật cũng là bước tiếp tục khẳng định cam kết của Việt Nam trong thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em; tạo cơ sở nội luật hóa các cam kết quốc tế, thực hiện hiệu quả Công ước La Hay năm 1993 và các hiệp định song phương về nuôi con nuôi mà Việt Nam đã ký kết.
Góp ý cụ thể đối với Điều 5 về các hành vi bị nghiêm cấm, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh cho rằng, quy định nghiêm cấm sử dụng mạng viễn thông, mạng xã hội hoặc các nền tảng điện tử khác để môi giới nhận con nuôi trái pháp luật là chưa bao quát đầy đủ các phương thức thực hiện hành vi vi phạm.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, nếu chỉ nhấn mạnh việc môi giới thông qua nền tảng điện tử, có thể dẫn đến cách hiểu hành vi môi giới bằng phương thức truyền thống, chẳng hạn trực tiếp gặp gỡ để môi giới nhận con nuôi, không thuộc phạm vi nghiêm cấm. Vì vậy, cần chỉnh lý theo hướng nghiêm cấm mọi hành vi môi giới nhận con nuôi trái pháp luật, không phân biệt phương thức thực hiện, bảo đảm quy định chặt chẽ, bao quát và không tạo khoảng trống pháp lý.
Đối với Điều 7 về quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi, Phó Chủ tịch Quốc hội tán thành việc khẳng định con nuôi có quyền biết về nguồn gốc của mình và không ai được cản trở quyền này. Tuy nhiên, để quyền đó được thực hiện trên thực tế, cần quy định rõ trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và cơ chế tiếp cận thông tin.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Dẫn quy định tại Điều 30 Công ước La Hay năm 1993, Phó Chủ tịch Quốc hội cho biết, các cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm lưu giữ thông tin về nguồn gốc trẻ em, nhất là danh tính cha mẹ và lý lịch y tế; đồng thời tạo điều kiện để trẻ hoặc người đại diện tiếp cận thông tin theo trình tự, điều kiện do pháp luật quy định. Từ đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật quy định mang tính nguyên tắc về lưu trữ hồ sơ nuôi con nuôi, điều kiện và trình tự tiếp cận thông tin về nguồn gốc, vừa bảo đảm quyền của con nuôi, vừa đáp ứng yêu cầu bảo quản, bảo mật thông tin theo các cam kết quốc tế.
Ưu tiên gia đình gốc, siết chặt quy trình ghép trẻ và ngăn ngừa trục lợi
Cùng quan tâm đến nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) cho rằng, điểm tiến bộ quan trọng của dự thảo là chuyển từ tư duy tạo điều kiện cho việc nhận con nuôi sang bảo đảm nuôi con nuôi chỉ được thực hiện khi đó là phương án tốt nhất cho trẻ, không còn giải pháp phù hợp trong gia đình gốc.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đại biểu nhấn mạnh, thước đo thành công của Luật không phải là số trẻ được nhận nuôi tăng lên, mà là không có trẻ em nào phải rời gia đình gốc khi vẫn còn cơ hội ở lại và không có trẻ em nào bị bỏ quên sau khi đã được nhận nuôi.
Phân tích sự thiếu thống nhất giữa Điều 4 và Điều 10 của dự thảo, đại biểu Phan Thị Thùy Linh chỉ rõ, trong khi Điều 4 xác định chỉ giải quyết nuôi con nuôi khi không thể giữ trẻ trong gia đình gốc, Điều 10 lại giao cơ sở trợ giúp xã hội chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế sang nuôi con nuôi. Điều này có thể dẫn đến cách hiểu nuôi con nuôi mặc nhiên trở thành phương án ưu tiên đối với trẻ đang được chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội.
“Cách đi phải là tìm cho trẻ con đường ngắn nhất trở về gia đình, chứ không phải con đường ngắn nhất ra khỏi cơ sở”, đại biểu nhấn mạnh.
Từ đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 10 theo hướng cơ sở trợ giúp xã hội phải đánh giá hoàn cảnh của từng trẻ, tìm kiếm khả năng đoàn tụ gia đình gốc hoặc người thân thích trước khi đề xuất phương án nuôi con nuôi; đồng thời, quy định các tiêu chí cốt lõi xác định “lợi ích tốt nhất của trẻ em” và “hoàn cảnh đặc biệt” ngay trong Luật, tránh tình trạng áp dụng thiếu thống nhất giữa các địa phương.
Đối với quy trình ghép trẻ, đại biểu đánh giá cao việc chuyển từ để người nhận nuôi tự tìm trẻ sang cơ quan có thẩm quyền chủ động thực hiện ghép trẻ. Đây là thay đổi quan trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ thỏa thuận ngầm, môi giới, mua bán trẻ em dưới hình thức nuôi con nuôi.
Tuy nhiên, việc ghép trẻ đòi hỏi chuyên môn cao, cần có quy trình rõ ràng, sự tham gia của người làm công tác xã hội, cùng cơ chế đào tạo, hướng dẫn và giám sát đối với chính quyền cấp xã. Đại biểu cũng đề nghị bỏ quy định về khoản “thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở” trong hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bởi có nguy cơ bị lợi dụng để hợp thức hóa hành vi môi giới, mua bán trẻ em. Đối với khoản bù đắp chi phí nuôi dưỡng, cần quy định định mức, phương thức thanh toán và cơ chế kiểm tra, giám sát minh bạch.

ĐBQH Trần Kim Kha (Gia Lai) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: An Nhiên
Liên quan đến điều kiện nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình, ĐBQH Trần Kim Kha (Gia Lai) đề nghị rà soát khoản 4 Điều 14 để bảo đảm sự bình đẳng giữa người thân thích trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhận cháu ruột làm con nuôi.
Theo đại biểu, cùng là chú ruột nhận cháu làm con nuôi, nhưng người ở trong nước được miễn một số điều kiện về độ tuổi chênh lệch, sức khỏe, kinh tế và chỗ ở; trong khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ hơn. Quy định này có thể làm hạn chế cơ hội được sống cùng người thân ruột thịt của trẻ em mồ côi. Vì vậy, cần sửa đổi quy định theo hướng bảo đảm tính thống nhất, phù hợp với thực tiễn và quyền lợi của trẻ.

ĐBQH Vũ Tiến Dũng (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Cùng quan điểm phải ưu tiên quyền được sống trong gia đình gốc, ĐBQH Vũ Tiến Dũng (Thanh Hóa) đề nghị làm rõ điều kiện nhận con nuôi trong phạm vi gia đình tại Điều 13, nhất là trường hợp cô, cậu, dì, chú, bác nhận cháu ruột làm con nuôi. Theo đại biểu, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi phải xuất phát từ nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và lợi ích thực sự của trẻ, tránh trường hợp trẻ vẫn được cha mẹ đẻ chăm sóc đầy đủ nhưng lại xác lập quan hệ nuôi con nuôi khi chưa cần thiết. Tuy nhiên, quy định cũng cần linh hoạt, không tạo rào cản đối với các quan hệ gia đình chính đáng.
Hoàn thiện cơ chế giám sát sau nhận nuôi, bảo vệ quyền lợi lâu dài của trẻ em
Quan tâm đến chất lượng chăm sóc và bảo vệ trẻ sau khi được nhận nuôi, ĐBQH Huỳnh Thị Anh Thảo (Gia Lai) cho rằng, việc sửa đổi Luật cần chuyển trọng tâm từ quản lý thủ tục nhận nuôi sang bảo đảm chất lượng chăm sóc, sự ổn định tâm lý và khả năng phát triển lâu dài của trẻ trong môi trường gia đình.

ĐBQH Huỳnh Thị Anh Thảo (Gia Lai) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Theo đại biểu, việc ghép trẻ với gia đình nhận nuôi không nên chỉ dựa vào điều kiện kinh tế hay khả năng chăm sóc vật chất, mà phải đánh giá mức độ phù hợp với nhu cầu phát triển cụ thể của từng trẻ. Đối với trẻ từng bị bạo lực, bỏ rơi hoặc sống lâu dài trong cơ sở trợ giúp xã hội, sự thay đổi môi trường sống có thể tạo ra những khó khăn về tâm lý, khả năng gắn bó và thích nghi.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tâm lý, giáo dục và chăm sóc đặc thù của trẻ; có cơ chế tư vấn, chuẩn bị tâm lý trước khi giao nhận con nuôi, đặc biệt đối với trẻ khuyết tật, trẻ lớn tuổi và trẻ từng bị xâm hại.
Đối với quy định trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên phải đồng ý mới được giải quyết cho làm con nuôi, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế ghi nhận nguyện vọng của trẻ dưới 7 tuổi phù hợp với khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành. Việc đánh giá cần có sự tham gia của người làm công tác xã hội hoặc chuyên gia tâm lý khi cần thiết, tránh biến việc lấy ý kiến trẻ em thành thủ tục hình thức.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đặc biệt, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo nhấn mạnh, những khó khăn trong quá trình nhận nuôi không nhất thiết xuất hiện ngay khi giao nhận trẻ mà có thể phát sinh sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Do đó, cần thiết kế cơ chế hỗ trợ, tư vấn sau nhận nuôi theo mức độ rủi ro; thiết lập đầu mối để trẻ em và gia đình tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội, hỗ trợ tâm lý khi cần thiết, đồng thời tôn trọng đời sống riêng tư của gia đình nhận nuôi.
Về vấn đề này, ĐBQH Vũ Tiến Dũng cũng đề nghị quy định rõ trách nhiệm lưu trữ, bảo mật, cung cấp thông tin về nguồn gốc của con nuôi; đồng thời, thực hiện nguyên tắc thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và có thể khai thác thì không yêu cầu người dân cung cấp lại. Việc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm quyền riêng tư, nhân phẩm và lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng như các bên liên quan.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Liên quan đến hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, đại biểu Vũ Tiến Dũng đề nghị thống nhất thời điểm quyết định nuôi con nuôi có hiệu lực, thời điểm xác lập quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi và thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và các lợi ích hợp pháp của trẻ.
Đặc biệt, đối với căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi tại Điều 27, đại biểu cho rằng, cha mẹ nuôi mắc bệnh hiểm nghèo không đồng nghĩa với không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con. Vì vậy, chỉ nên xem xét chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi tình trạng bệnh thực sự khiến cha mẹ nuôi không còn khả năng chăm sóc trẻ, đồng thời phải có phương án bảo đảm quyền lợi của trẻ sau khi chấm dứt.