Thảo luận tại Tổ 13 (Thanh Hóa và Gia Lai) sáng 20/10 về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ký kết thỏa thuận quốc tế; đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý đồng bộ cho chuyển đổi số toàn trình, nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện các thỏa thuận quốc tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên dự thảo luận tổ.
Làm rõ thẩm quyền, đơn giản hóa thủ tục ký kết thỏa thuận quốc tế
Đồng tình với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chủ thể được ký kết thỏa thuận quốc tế, ĐBQH Lý Tiết Hạnh (Gia Lai) cho rằng, việc sửa đổi Luật cần bảo đảm yêu cầu quản lý tập trung, thống nhất hoạt động đối ngoại, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là chính quyền địa phương, chủ động triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế.

ĐBQH Lý Tiết Hạnh (Gia Lai) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu đề nghị việc mở rộng chủ thể ký kết phải đi đôi với quy định rõ ràng về phạm vi, thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện. Theo dự thảo Luật, chủ thể được ký kết thỏa thuận quốc tế được mở rộng đến UBND cấp xã, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế trực thuộc UBND cấp tỉnh. Đối với UBND cấp xã, thẩm quyền ký kết không còn giới hạn ở các xã khu vực biên giới.
Tuy nhiên, đại biểu nhận thấy, trong khi các xã biên giới có quy định giới hạn về phạm vi, nội dung ký kết thì đối với một số chủ thể khác, giới hạn này chưa được xác định cụ thể. Đặc biệt, tại khoản 1, khoản 3 Điều 52 và các Điều 32, 34, 37 của dự thảo Luật sử dụng cụm từ “quan trọng, phức tạp” nhưng chưa làm rõ nội hàm và tiêu chí xác định.

Toàn cảnh thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Dẫn Quy định số 392-QĐ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, trong đó đã sử dụng và giải thích thuật ngữ “phức tạp, nhạy cảm”, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu cụ thể hóa các nội dung liên quan, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Theo đại biểu Lý Tiết Hạnh, nếu không có tiêu chí cụ thể, các cơ quan, đơn vị ở địa phương sẽ gặp khó khăn trong xác định thẩm quyền và lựa chọn trình tự, thủ tục ký kết; có thể dẫn đến tâm lý e ngại, không dám thực hiện hoặc áp dụng quy định không thống nhất.
Quan tâm đến thành phần hồ sơ ký kết thỏa thuận quốc tế, đại biểu chỉ ra sự chưa đồng bộ giữa Điều 24, Điều 25 và Điều 33 của dự thảo Luật. Trong khi Điều 24, Điều 25 chưa xác định rõ những nội dung chủ yếu của văn bản đề xuất ký kết, tờ trình đề xuất ký kết hoặc tờ trình về việc ký kết thì Điều 33 về trình tự, thủ tục rút gọn lại quy định tương đối cụ thể.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh cùng các ĐBQH tham dự thảo luận tại tổ. Ảnh: An Nhiên
Cho rằng thỏa thuận quốc tế là kết quả trao đổi, thống nhất giữa phía Việt Nam và đối tác nước ngoài, đại biểu đề nghị Luật chỉ quy định những nguyên tắc, yêu cầu chung về hồ sơ, trình tự, thủ tục; giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, thuận lợi trong quá trình thực hiện, tránh quy định quá cứng nhắc, gây khó khăn cho các chủ thể ký kết.
Cùng quan tâm đến việc mở rộng chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) đánh giá cao việc dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị và địa phương chủ động triển khai hoạt động hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, mở rộng thẩm quyền phải gắn với cơ chế kiểm soát và trách nhiệm thực hiện.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập như trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu, đại biểu đề nghị những thỏa thuận thuộc phạm vi tự chủ cần được chủ động ký kết và báo cáo cơ quan chủ quản; chỉ những thỏa thuận có yếu tố nhạy cảm liên quan đến an ninh, dữ liệu, tài chính, sở hữu trí tuệ mới phải thực hiện quy trình lấy ý kiến trước khi ký. Quy định này sẽ góp phần giảm thủ tục trung gian, tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật.
Liên quan đến thẩm quyền ký kết của UBND cấp xã, đại biểu Phan Thị Thùy Linh ủng hộ việc giao thẩm quyền cho cấp xã, đồng thời đề nghị Chính phủ quy định rõ danh mục lĩnh vực được ký kết, điều kiện áp dụng đối với xã biên giới và xã ngoài biên giới, cùng chế độ báo cáo, hậu kiểm phù hợp. Qua đó, tạo điều kiện để chính quyền cơ sở chủ động hợp tác quốc tế, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại.
Xây dựng cơ chế pháp lý cho chuyển đổi số toàn trình trong hoạt động thỏa thuận quốc tế
Tập trung góp ý về chuyển đổi số trong hoạt động ký kết và quản lý thỏa thuận quốc tế, ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) nhận định, các quy định trong dự thảo Luật còn phân tán, chủ yếu dừng ở việc cho phép ứng dụng công nghệ, chưa hình thành cơ chế pháp lý đầy đủ để thực hiện, khai thác và quản lý toàn bộ quy trình thỏa thuận quốc tế trên môi trường số.

ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận. Ảnh: An Nhiên
Đối với khoản 8 Điều 2 về khái niệm ký điện tử thỏa thuận quốc tế, đại biểu đề nghị làm rõ việc ký điện tử có bắt buộc áp dụng đối với tất cả các bên ký kết hay không. Thực tế có thể phát sinh trường hợp phía Việt Nam sử dụng chữ ký điện tử, trong khi đối tác nước ngoài ký trực tiếp trên giấy. Với cách quy định hiện nay, chưa có cơ sở rõ ràng để xác định trường hợp này có được công nhận là ký điện tử thỏa thuận quốc tế hay không.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 8 mới quy định trách nhiệm của bên ký kết Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng, giao dịch điện tử, lưu trữ và bảo vệ bí mật nhà nước, nhưng chưa làm rõ điều kiện công nhận chữ ký điện tử của bên ký kết nước ngoài.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc xác thực, công nhận chữ ký điện tử nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế trên môi trường số.
Nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ ứng dụng công nghệ thông tin đơn lẻ sang chuyển đổi số toàn diện, đại biểu Phạm Thế Anh đề xuất bổ sung nguyên tắc thực hiện quy trình số hóa toàn trình, từ đề xuất, lấy ý kiến, phê duyệt, ký kết đến lưu trữ, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện thỏa thuận quốc tế. Đồng thời, khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ dịch thuật, rà soát pháp lý, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả xử lý công việc.
Liên quan đến Điều 44 về cơ sở dữ liệu thỏa thuận quốc tế, đại biểu cho rằng, dự thảo chưa làm rõ cơ chế kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trung ương, địa phương và các hệ thống thông tin có liên quan. Đặc biệt, khoản 3 Điều 44 chủ yếu yêu cầu cập nhật thông tin về thỏa thuận đã ký và hiệu lực của thỏa thuận, chưa quy định việc cập nhật tiến độ, kết quả, sản phẩm hợp tác và hiệu quả thực hiện.
Theo đại biểu, nếu chỉ quản lý thông tin về số lượng và hiệu lực của các thỏa thuận thì chưa phản ánh đầy đủ chất lượng hoạt động hợp tác quốc tế. Chẳng hạn, một trường đại học có thể ký nhiều thỏa thuận hợp tác nhưng điều quan trọng là xác định được bao nhiêu thỏa thuận đang được triển khai, mang lại kết quả thực chất và bao nhiêu thỏa thuận không còn hiệu quả.

Các ĐBQH tham gia thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm cập nhật dữ liệu của các cơ quan, tổ chức trực tiếp thực hiện thỏa thuận quốc tế. Nếu mọi thông tin đều phải chuyển về cơ quan chủ quản để cập nhật sẽ phát sinh thêm khâu trung gian, tăng khối lượng công việc và ảnh hưởng đến tính kịp thời, chính xác của dữ liệu.
Vì vậy, đại biểu Phạm Thế Anh đề xuất giao người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp thực hiện thỏa thuận quốc tế chịu trách nhiệm tổ chức cập nhật dữ liệu; đồng thời quy định trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý cấp trên. Nội dung cập nhật cần bao gồm thông tin ký kết, hiệu lực, tiến độ, kết quả, sản phẩm và hiệu quả thực hiện.
Theo đại biểu, hoàn thiện quy định theo hướng này không chỉ góp phần giảm thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu mà còn chuyển từ quản lý số lượng thỏa thuận đã ký sang quản lý, đánh giá hiệu quả thực chất của hoạt động hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số.