Thảo luận tại Tổ 13 (Thanh Hóa, Gia Lai) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh tán thành việc phân cấp cho địa phương quyết định hỗ trợ chi phí cho hoạt động đào tạo, tuy nhiên, cần nghiên cứu quy định các điều kiện ràng buộc sau đào tạo và cơ chế quản lý, giám sát, bảo đảm tính minh bạch, tránh thất thoát nguồn lực.
Ràng buộc trách nhiệm sử dụng nguồn lực hỗ trợ đào tạo
Qua nghiên cứu hồ sơ dự án luật và báo cáo thẩm tra, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh đánh giá cao nỗ lực, tinh thần trách nhiệm và phản ứng chính sách kịp thời của Chính phủ, trực tiếp là Bộ Tài chính, trong việc khẩn trương xây dựng dự án luật.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh phát biểu thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Phó Chủ tịch Quốc hội nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Việc sửa đổi Luật giúp giải quyết triệt để các rào cản, điểm nghẽn thể chế, chuyển mạnh tư duy thu hút FDI từ “số lượng” sang “chất lượng, hiệu quả, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn”, nâng cao tính tự chủ chiến lược của nền kinh tế và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Góp ý quy định tại Điều 17a, Phó Chủ tịch Quốc hội đề cập cơ chế đặc thù cho phép HĐND cấp tỉnh sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp triển khai hoạt động đào tạo lao động tại các cơ sở đào tạo của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước. Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, đẩy mạnh phân cấp theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm là phù hợp.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Tuy nhiên, việc sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đào tạo ở nước ngoài hoặc ngoài địa bàn cần được nghiên cứu kỹ bởi có thể phát sinh khó khăn trong kiểm tra, giám sát thực tế hoạt động đào tạo và quyết toán tài chính. Cùng với đó là nguy cơ thất thoát nguồn lực nếu người lao động sau đào tạo, nhất là đào tạo ở nước ngoài, không trở về địa phương làm việc.
Phó Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, nếu thiếu cơ chế quản lý tốt, chính sách hỗ trợ có thể dẫn đến cuộc đua cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương có điều kiện ngân sách khác nhau.
Từ đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị nghiên cứu bổ sung điều kiện bắt buộc người lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo phải cam kết làm việc cho doanh nghiệp, địa phương trong một thời gian tối thiểu nhất định. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung trách nhiệm của HĐND cấp tỉnh trong việc công khai danh sách doanh nghiệp và kinh phí hỗ trợ trên cổng thông tin điện tử của tỉnh và Cổng một cửa đầu tư quốc gia.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Đối với Điều 49a về định hướng thu hút đầu tư theo địa bàn, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh đề cập việc dự thảo phân thành ba nhóm: vùng động lực, cực tăng trưởng; vùng lân cận, vệ tinh; và các địa bàn còn lại.
Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, việc phân vùng thu hút FDI nhằm tránh tình trạng tập trung quá tải tại các đô thị lớn, địa phương có điều kiện thuận lợi như các thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh là đúng đắn.
Tuy nhiên, các thuật ngữ “vùng động lực”, “cực tăng trưởng”, “vùng vệ tinh” còn mang tính định tính, chưa được dẫn chiếu đồng bộ với Luật Quy hoạch và Quy hoạch tổng thể quốc gia.
Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị dẫn chiếu chính xác các khái niệm về vùng động lực, cực tăng trưởng theo Luật Quy hoạch, bảo đảm sự thống nhất trong quy định về định hướng thu hút đầu tư theo địa bàn.
Minh bạch điều kiện kinh doanh, thống nhất quy định tiếp cận thị trường
Quan tâm đến tính thống nhất của pháp luật về đầu tư, ĐBQH Đinh Ngọc Quý (Gia Lai) cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư lần này mới đáp ứng yêu cầu trước mắt. Về lâu dài, cần đánh giá toàn diện quá trình thực hiện Luật để sửa đổi đồng bộ, đáp ứng đầy đủ các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu của Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

ĐBQH Đinh Ngọc Quý (Gia Lai) phát biểu tại tổ
Đối với đề xuất bổ sung quy định sau khoản 3 Điều 8 nhằm nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, đại biểu đề nghị làm rõ cơ sở và giới hạn thẩm quyền của Chính phủ. Cần phân biệt thẩm quyền quy định danh mục ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường, ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện với việc điều chỉnh các nguyên tắc, điều kiện đã được quy định trong luật.
Đại biểu tán thành việc xem xét điều kiện tiếp cận thị trường trên cơ sở bảo đảm quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng và các cam kết quốc tế; gắn với mở rộng thị trường, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và bảo đảm vai trò chủ đạo của Nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu. Tuy nhiên, việc cho phép Chính phủ điều chỉnh bằng nghị định để nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cần được đối chiếu với quy định về thẩm quyền ban hành, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm nhất quán về nguyên tắc và thẩm quyền.

ĐBQH Đồng Ngọc Ba (Gia Lai) phát biểu tại tổ. Ảnh: An Nhiên
Ở góc độ điều kiện đầu tư kinh doanh, ĐBQH Đồng Ngọc Ba (Gia Lai) nhấn mạnh, cải cách không chỉ thể hiện ở số lượng ngành, nghề được đưa ra khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện, mà phải tạo thuận lợi thực chất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Theo đại biểu, điều kiện đầu tư kinh doanh là công cụ bảo vệ các lợi ích công cộng quan trọng, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân khi gia nhập thị trường và trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, pháp luật hiện chưa phân định rõ các điều kiện đối với chủ thể kinh doanh với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, dẫn đến lúng túng khi xây dựng các luật chuyên ngành.
Dẫn chứng từ việc sửa đổi pháp luật về kế toán, đại biểu cho biết, dù kinh doanh dịch vụ kế toán được đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, dự thảo luật chuyên ngành vẫn đặt ra yêu cầu về “chứng chỉ năng lực kinh doanh dịch vụ kế toán” đối với người ký báo cáo tài chính của khách hàng. Theo đại biểu, nếu không có chứng chỉ mà không được thực hiện hoạt động kinh doanh thì yêu cầu này vẫn mang bản chất của điều kiện đầu tư kinh doanh.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Trong khi đó, đối với dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ, cơ quan soạn thảo tiếp cận theo hướng đã đưa ra khỏi danh mục thì không tiếp tục đặt ra các điều kiện tương ứng. Sự khác nhau trong cách xử lý cho thấy cần làm rõ nguyên tắc ngay trong Luật Đầu tư để áp dụng thống nhất.
Từ đó, đại biểu Đồng Ngọc Ba đề nghị sửa đổi Điều 7, làm rõ tiêu chí xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; phân biệt điều kiện áp dụng đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
Đồng thời, cần xác lập nguyên tắc: “Khi một ngành, nghề không thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện thì các luật khác không đặt ra yêu cầu mang bản chất điều kiện đầu tư kinh doanh dưới hình thức chứng chỉ hoặc hình thức tương tự. Việc xác định phải căn cứ vào bản chất của yêu cầu, thay vì chỉ dựa vào tên gọi của giấy tờ”.
Đại biểu đề nghị ngay tại kỳ họp này cần rà soát các dự án luật liên quan. Nếu thực sự cần duy trì điều kiện, như yêu cầu về chứng chỉ đối với dịch vụ kế toán hoặc điều kiện đối với dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ, thì phải thể hiện thống nhất trong danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.