Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Triệu Thế Hùng (Thanh Hóa) đề nghị quy định rõ trong luật trách nhiệm thu hồi, tái chế tấm pin mặt trời của nhà sản xuất, nhập khẩu và phân phối; đồng thời làm rõ trách nhiệm, cơ chế tài chính của chủ đầu tư để bảo đảm xử lý khi dự án kết thúc hoặc gặp rủi ro, tránh để lại hệ lụy môi trường cho người dân.
Bảo đảm nguồn lực xử lý tấm pin khi dự án kết thúc
ĐBQH Triệu Thế Hùng cơ bản tán thành với các nội dung sửa đổi, bổ sung của dự thảo luật và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Đại biểu đánh giá dự thảo đã thể chế hóa nhiều nhiệm vụ đặt ra từ các chủ trương của Trung ương và yêu cầu thực tiễn, trong đó có việc bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các địa phương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và những biến động của môi trường không khí, nước, đất.

ĐBQH Triệu Thế Hùng (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ
Từ kiến nghị của cử tri, đại biểu dành sự quan tâm đến việc xử lý tấm pin mặt trời hết hạn sử dụng trong bối cảnh các dự án điện mặt trời phát triển. Theo đại biểu, điều kiện tự nhiên của nước ta thuận lợi cho khai thác năng lượng mặt trời, song cùng với phát triển nguồn điện này phải tính toán đầy đủ trách nhiệm xử lý chất thải sau khi thiết bị kết thúc vòng đời sử dụng.
Đại biểu cho biết, vấn đề xử lý tấm pin mặt trời đã được các đại biểu Quốc hội đề cập qua nhiều kỳ họp. Dù dự thảo lần này đã có nội dung liên quan, các quy định vẫn cần được rà soát kỹ, thể hiện rõ ràng, cụ thể hơn.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Trước hết, đại biểu đề nghị quy định trực tiếp trong luật trách nhiệm thu hồi, tái chế của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và đơn vị phân phối tấm pin mặt trời. Đi cùng với trách nhiệm thu hồi phải có quy trình xử lý khi tấm pin hết hạn sử dụng, tránh tình trạng phát triển dự án trước nhưng chưa chuẩn bị đầy đủ phương án giải quyết chất thải về sau.
Đại biểu cũng nêu những băn khoăn của địa phương khi tiếp nhận dự án sản xuất tấm pin mặt trời, nhất là nguy cơ phát sinh nước thải và các tác động đến môi trường, đời sống người dân. Dù công nghệ sản xuất đã có nhiều tiến bộ, yêu cầu kiểm soát tác động môi trường vẫn phải được đặt ra chặt chẽ.
Đối với tấm pin thải bỏ, đại biểu đề nghị đánh giá rõ tính chất nguy hại để có yêu cầu quản lý, xử lý phù hợp. Việc nghiên cứu kinh nghiệm, công nghệ xử lý của các nước đi trước cũng cần được quan tâm nhằm chủ động phương án khi lượng tấm pin hết hạn sử dụng gia tăng.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị xác định “đây là một loại hình có tính chất rác thải nguy hại” để làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư dự án điện mặt trời, cơ chế tài chính và giám sát việc thực hiện nghĩa vụ xử lý chất thải. Các quy định phải tính đến cả trường hợp dự án kết thúc theo kế hoạch và trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro, phải dừng hoạt động trong quá trình triển khai.

ĐBQH Triệu Thế Hùng (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Theo đại biểu, cam kết xử lý của doanh nghiệp tại thời điểm đầu tư cần đi kèm cơ chế bảo đảm thực hiện. Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc chấm dứt hoạt động, phải xác định được nguồn lực và trách nhiệm giải quyết lượng tấm pin còn lại. Thiếu quy định chặt chẽ sẽ tạo khoảng trống pháp luật, khiến việc xử lý hậu quả trở nên khó khăn khi một lượng lớn tấm pin đồng loạt hết hạn sử dụng.
Phân loại rác tại nguồn, phối hợp xử lý ô nhiễm liên địa bàn
Đối với rác thải sinh hoạt, đại biểu Triệu Thế Hùng nhấn mạnh lại tầm quan trọng khi dự thảo luật đã thể chế hóa việc bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Bởi, việc xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay đang là vấn đề khiến các địa phương trăn trở.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Từ thực tiễn, ĐBQH Triệu Thế Hùng đề nghị chú trọng phân loại rác ngay tại nguồn và xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương.
Đại biểu Triệu Thế Hùng dẫn ý kiến chuyên gia Nhật Bản cho rằng, Việt Nam đang lãng phí một lượng tài nguyên lớn do chưa phân loại được rác thải. Khi rác bị trộn lẫn, việc chôn lấp gây ô nhiễm môi trường, còn xử lý bằng công nghệ đốt đòi hỏi nhiệt độ cao và chi phí đầu tư lớn. Theo đại biểu, để xử lý rác hỗn hợp, nhiệt độ lò đốt có thể phải đạt khoảng 1.000 - 1.100 độ C; trong khi một số loại lò được đầu tư ở địa phương chỉ đạt khoảng 800 - 900 độ C, khó đốt hết rác.
Đại biểu cũng chỉ ra bài toán thu gom, vận chuyển khi địa bàn các tỉnh rộng, khoảng cách đến cơ sở xử lý có thể rất xa. Tập trung rác về một nhà máy làm tăng chi phí vận chuyển, trong khi đầu tư nhiều nhà máy lại cần nguồn lực lớn. Mức chi cho xử lý rác và khả năng cân đối của địa phương cũng là những yếu tố phải tính toán.
Từ thực tế đó, đại biểu nhấn mạnh cần tổ chức phân loại rác từ đầu để thu hồi, tái chế những thành phần còn giá trị sử dụng. Phần rác hữu cơ được tách riêng có thể xử lý thành phân hữu cơ hoặc áp dụng phương án phù hợp. Cách làm này vừa tận dụng tài nguyên, vừa giảm khối lượng chất thải phải xử lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường tại địa phương.
Về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giấy phép môi trường, đại biểu Triệu Thế Hùng ghi nhận bước cải cách của dự thảo trong việc cắt giảm mạnh đối tượng phải thực hiện các thủ tục này. Theo đại biểu, mức giảm khoảng 90%, đồng thời đẩy mạnh phân cấp cho cấp tỉnh và cấp xã.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị nghiên cứu thận trọng cơ chế thực hiện để tránh buông lỏng quản lý. Điều kiện máy móc, trang thiết bị và năng lực chuyên môn ở địa phương, nhất là cấp xã, khó có thể tương đương với cấp Trung ương. Do đó, khi giao nhiệm vụ đánh giá, thẩm định về môi trường phải bảo đảm tính hệ thống, có sự hướng dẫn, phối hợp xuyên suốt từ trên xuống dưới.
Đại biểu cũng cho rằng, dù dự thảo đã lượng hóa một số tiêu chí nhạy cảm về môi trường, vẫn cần tiếp tục rà soát để bảo đảm đầy đủ, đáp ứng yêu cầu quản lý.
Nhấn mạnh môi trường là “ngôi nhà chung”, đại biểu lưu ý, ô nhiễm có thể vượt qua nhiều địa giới hành chính, thậm chí mang tính xuyên biên giới. Vì vậy, phân định nhiệm vụ giữa cấp xã và cấp tỉnh phải đi cùng cơ chế phối hợp liên ngành, liên địa phương.
Một dòng sông có thể chảy qua nhiều tỉnh; nguồn gây ô nhiễm phát sinh tại một xã nhưng ảnh hưởng đến nhiều xã khác. Bởi vậy, việc thẩm định, đánh giá và xử lý không thể chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương. Dự thảo cần phân định rõ trách nhiệm để khi xảy ra ô nhiễm có thể phối hợp giải quyết triệt để cả nguyên nhân và hậu quả. Đây cũng là vướng mắc đang tồn tại trong thực tiễn tại nhiều địa phương.