Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 02/11/2026, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Luật sư (sửa đổi) và dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành các nội dung phiên thảo luận. Tại phiên thảo luận, đại biểu Cao Mạnh Linh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội, thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa, đã tham gia phát biểu, đóng góp ý kiến nhằm tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), tập trung vào việc mở rộng nguồn đào tạo luật sư chất lượng cao phục vụ hội nhập quốc tế. Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đại biểu Cao Mạnh Linh.

Đại biểu Quốc hội Cao Mạnh Linh phát biểu tại phiên thảo luận
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp,
Kính thưa Quốc hội,
Sau đây, tôi xin phát biểu góp ý về việc mở rộng nguồn đào tạo luật sư chất lượng cao phục vụ hội nhập quốc tế liên quan đến Điều 7 và Điều 10 của dự thảo luật.
Thưa Quốc hội, theo tôi việc mở rộng nguồn luật sư cần đi cùng cơ chế bảo đảm trang bị kiến thức nền tảng và năng lực hành nghề thực chất của đội ngũ luật sư. Báo cáo tổng kết thi hành luật cho thấy, cuối năm 2025 cả nước đã có 22.098 luật sư, tăng hơn 5 lần so với năm 2007, tuy nhiên việc phát triển đội ngũ luật sư thông thạo ngoại ngữ, có kiến thức chuyên sâu về thương mại quốc tế là chưa đạt kỳ vọng; sự tham gia tư vấn, thẩm định pháp lý các dự án lớn của Chính phủ còn hạn chế. Trong khi triển khai Nghị quyết số 222 về Trung tâm tài chính quốc tế và Luật Tòa án chuyên biệt số 150 năm 2025 thì nhu cầu về đội ngũ này càng trở nên cấp thiết.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 5 Điều 24 dự thảo cũng yêu cầu ý kiến tư vấn pháp luật Việt Nam do tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam cung cấp phải do luật sư Việt Nam thực hiện và ký. Quy định này càng thấy sự cần thiết phải chuẩn bị đội ngũ luật sư Việt Nam vừa vững pháp luật, vừa am hiểu về tài chính, thương mại quốc tế, công nghệ để đảm nhận công việc trong môi trường hội nhập.
Qua tiếp thu ý kiến tại tổ, khoản 2 Điều 7 dự thảo đã thu hẹp ngoại lệ, chỉ áp dụng đối với người có bằng luật sau đại học tại các quốc gia không đào tạo cử nhân luật và xác định đối với Việt Nam thì bằng cử nhân luật vẫn là tiêu chuẩn bắt buộc. Tôi đồng tình với yêu cầu bảo đảm nền tảng pháp luật, nhưng cho rằng cách tiếp cận này chưa giải quyết được nhu cầu thu hút người có chuyên môn sâu về tài chính, thương mại quốc tế, công nghệ trong nước để chuyển sang hành nghề luật sư. Đồng thời, việc phân biệt theo bằng cấp trong nước hay nước ngoài cũng không phù hợp, chưa bảo đảm đánh giá thực chất về năng lực và kiến thức của người muốn chuyển nghề. Đây cũng là ý kiến của một số đại biểu đề cập. Nếu theo dự thảo mới, với người đã có bằng đại học ngành khác, kể cả đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật trong nước nếu muốn hành nghề luật sư sẽ phải bắt buộc bổ sung một bằng cử nhân luật. Trong khi đó, việc học thêm văn bằng hai cử nhân luật theo một số chương trình hiện nay là mất từ 2,5 - 3 năm. Vấn đề cần xem xét là có thể yêu cầu họ bổ sung đầy đủ kiến thức pháp luật còn thiếu theo một chương trình đạt chuẩn, bảo đảm thời gian, chi phí hợp lý thay cho việc bắt buộc hoàn thiện thêm một văn bằng hay không lại chưa được đặt đúng mức.
Một số ý kiến tại tổ cho rằng nguồn cử nhân luật không thiếu nên cần thận trọng khi mở rộng đối tượng. Theo tôi, nguồn cử nhân luật dồi dào nhưng chưa đồng nghĩa đã đáp ứng đủ nhu cầu về luật sư có năng lực chuyên sâu, liên ngành, có khả năng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Mở thêm lộ trình chuyển đổi hợp lý, thực chất cho người có chuyên môn tốt về tài chính, thương mại quốc tế, công nghệ là một hướng tốt để bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu hiện nay. Tuy nhiên, tôi đồng tình với lo ngại của cơ quan thẩm tra và cho rằng việc mở rộng đối tượng phải gắn với chuẩn kiến thức pháp luật nền tảng thống nhất để vào học nghề. Trên cơ sở đó, cần có cơ chế đánh giá, công nhận phần kiến thức người học cử nhân ngành khác đã đạt và yêu cầu học, kiểm tra bổ sung phần còn thiếu khi muốn tham gia đào tạo nghề luật sư. Tham khảo kinh nghiệm của nước Anh ở sứ Wales cho thấy người tốt nghiệp ngành khác vẫn có thể vào nghề luật sư; ở nhánh luật sư tranh tụng, khóa chuyển đổi nền tảng kéo dài ít nhất một năm toàn thời gian trước khi tiếp tục đào tạo nghề; ở nhánh luật sư tư vấn và đại diện, người học phải vượt qua các kỳ thi kiến thức kỹ năng, có 2 năm kinh nghiệm công việc pháp lý đáp ứng yêu cầu và đủ điều kiện về tư cách hành nghề. Như vậy, bài học có thể tham khảo là mở nhiều con đường tham gia nghề luật sư nhưng phải đi cùng cơ chế bảo đảm chất lượng tương ứng. Từ những cơ sở trên, tôi đề nghị chỉnh lý dự thảo luật theo 3 nội dung.
Một là, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 quy định trường hợp người có bằng đại học ngành khác, văn bằng được công nhận theo pháp luật Việt Nam nếu hoàn thành chương trình chuyển đổi kiến thức pháp luật đạt chuẩn thì có thể trở thành luật sư. Nhóm này phải đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất, tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư, hoàn thành 12 tháng tập sự và đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư.
Hai là, bổ sung nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết tại khoản 4 Điều 7 về chuẩn chương trình chuyển đổi và cơ chế đánh giá, công nhận kiến thức tương đương. Đối với người có bằng đại học ngành khác, kể cả người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật thì cần đánh giá phần kiến thức đã đạt và yêu cầu học, kiểm tra bổ sung phần còn thiếu trước khi vào đào tạo nghề.
Ba là, phải bảo đảm kỳ thi quốc gia về luật sư đánh giá thực chất năng lực hành nghề. Khoản 3 Điều 10 dự thảo luật yêu cầu đánh giá pháp luật, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, kỹ năng hành nghề của luật sư. Báo cáo số 920 đã dự kiến làm rõ nội dung đánh giá tại các văn bản hướng dẫn. Đề nghị việc cụ thể hóa phải bảo đảm đánh giá khả năng vận dụng pháp luật và xử lý công việc thực tế. Với phương án 2 bài thi trắc nghiệm trong dự thảo thông tư đã gửi kèm hồ sơ thì cần làm rõ cách thức đánh giá kỹ năng hành nghề để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của luật.
Theo tôi, mục tiêu của những sửa đổi này là mở thêm nguồn nhân lực có chuyên môn tốt, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế với những yêu cầu thực chất, giảm thời gian, chi phí nhưng gắn với yêu cầu bảo đảm nền tảng pháp luật cần thiết và năng lực hành nghề theo yêu cầu thống nhất, không chỉ dựa vào văn bằng, chứng chỉ.
Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.