Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 02/11/2026, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Luật sư (sửa đổi) và dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành các nội dung phiên thảo luận. Tại phiên thảo luận, đại biểu Lê Thanh Hoàn, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa, đã tham gia phát biểu, đóng góp ý kiến nhằm tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi). Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đại biểu Lê Thanh Hoàn.

Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Hoàn phát biểu tại phiên thảo luận

Kính thưa Chủ tọa phiên họp,

Kính thưa Quốc hội,

Trước hết, tôi bày tỏ sự tán thành với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp về dự án Luật Luật sư. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo, tôi xin phép có một số ý kiến cụ thể như sau:

Thứ nhất, về cơ chế kiến nghị tòa án buộc các bên thua kiện chi trả toàn bộ và một phần thù lao chi phí thuê luật sư. Sau khi thảo luận tổ, nội dung này đã được chỉnh lý theo hướng vẫn quy định quyền kiến nghị tòa án, trọng tài quyết định nghĩa vụ chịu của bên thua kiện, cách sửa đổi này theo tôi là không rõ ràng. Nếu nghĩa vụ chịu chỉ là với chi phí tố tụng thì đã có quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, còn nếu nghĩa vụ chịu đối với ý nghĩa ẩn đi của chi phí luật sư thì đề nghị cân nhắc bởi các lý do sau: Quy định này có nguy cơ tạo ra hiệu ứng đe dọa và xâm phạm đến quyền tiếp cận công lý của bên yếu thế. Trên thế giới, việc chi trả chi phí luật sư được điều chỉnh bởi theo 2 mô hình chính.

Một là mô hình bên thua kiện trả phí, được áp dụng tại Anh và một số quốc gia châu Âu. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng tác dụng phụ rất nguy hiểm của quy tắc này tạo ra hiệu ứng đe dọa hoặc làm thối chí. Người dân nghèo, người lao động, người tiêu dùng hoặc các tổ chức xã hội sẽ bị rào cản tài chính chặn ngay từ cửa tòa án. Họ không dám khởi kiện các doanh nghiệp lớn vì e sợ thua kiện, cho dù chỉ là sơ suất về tố tụng. Họ sẽ chịu thảm họa về tài chính khi phải bồi hoàn khoản thù lao luật sư đắt đỏ do các hãng luật lớn của đối phương thuê.

Hai là mô hình mỗi bên tự trả chi phí luật sư được áp dụng tại Hoa Kỳ và một số quốc gia Mỹ La-tinh với mục tiêu cốt lõi là bảo vệ quyền tiếp cận công lý. Người yếu thế không bị đe dọa bởi rủi ro tài chính khi bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước tòa án.

Ngoài ra, có các mô hình kết hợp áp dụng nguyên tắc mỗi bên tự chịu chi phí thù lao luật sư và có ngoại lệ trong các vụ sở hữu trí tuệ, cạnh tranh không lành mạnh, tranh chấp hợp đồng thương mại nếu các bên có thỏa thuận phí luật sư, tòa án sẽ công nhận nhưng vẫn kiểm tra tính hợp lý để giảm trừ nếu mức phí này quá cao, như mô hình của Trung Quốc. Hay tại Nhật Bản có thêm ngoại lệ trong các vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tòa án công nhận thù lao luật sư là một phần của thiệt hại thực tế trực tiếp do hành vi vi phạm gây ra với mức bồi hoàn theo tỷ lệ nhất định khoảng 10% giá trị bồi thường hoặc trong vụ kiện cố tình quấy rối, áp dụng khi một bên có hành vi lạm dụng tố tụng, khởi kiện thiếu căn cứ mang tính hằn thù. Tại các quốc gia theo mô hình bên thua kiện trả phí, để quy tắc này không trở thành vũ khí đe dọa, họ bắt buộc phải lập các hệ thống màng lọc bảo vệ dày đặc như Luật Chống kiện tụng đe dọa với chế tài phạt tiền rất nặng các tập đoàn lạm dụng chi phí kiện tụng để đe dọa sự tham gia của công chúng và quy định bảo vệ chi phí cùng với giới hạn trần chi phí để khống chế mức chi phí tối đa mà các bên yếu thế phải bồi hoàn nếu thua kiện trong các vụ án lợi ích công, môi trường lao động. Cùng với đó là cơ chế đặt cọc để bảo đảm chi phí khởi kiện và quy định miễn trừ đối với những trường hợp thuộc diện trợ giúp pháp lý. Điều này cho thấy chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu thấu đáo với các cơ chế bảo vệ đi kèm để có thể áp dụng trong tương lai với cơ chế bên thua kiện trả phí. Nếu áp dụng ngay quy tắc này vô hình trung chúng ta đang trao cho các tập đoàn các có tiềm lực một lưỡi gươm đe dọa tài chính, khiến người nghèo và bên yếu thế không dám tìm kiếm công lý từ tòa án. Do đó, trước mắt đề nghị bỏ quy định này và thực hiện theo nguyên tắc của các đạo luật tố tụng, hiện tại chúng ta đang áp dụng có giới hạn về chi trả chi phí luật sư trong các đạo luật chuyên ngành như Luật Sở hữu trí tuệ hoặc theo Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế, nơi các bên tranh chấp là các chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp, bình đẳng về tài chính.

Thứ hai, về hạn chế quyền hành nghề của luật sư đối với tư cách cá nhân. Tại Điều 23 quy định "luật sư cá nhân khi ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp, tổ chức thì phải được sự đồng ý của các cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động", đây là quy định mới cho thấy sự can thiệp hành chính quyền tự do lựa chọn việc làm và quan hệ lao động đã được Bộ luật Lao động điều chỉnh. Trong khi đó, ở chiều ngược lại, đối với luật sư Việt Nam làm việc theo hợp đồng tại các công ty luật, nơi trực tiếp va chạm với tố tụng tư pháp, nắm giữ hồ sơ tranh tụng và có rủi ro xung đột lợi ích cao nhất thì lại không hề có điều khoản nào cấm họ ký hợp đồng lao động với nhiều công ty luật Việt Nam trong cùng một thời điểm, miễn là họ không thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư. Điều này cho thấy một nghịch lý là siết chặt hành nghề ở nơi có ít rủi ro xung đột lợi ích tư pháp (khối doanh nghiệp thông thường), nhưng lại gián tiếp thả nổi ở nơi có nguy cơ rò rỉ thông tin chéo của khách hàng cao nhất (khối công ty luật). Điều này không những bất hợp lý mà còn triệt tiêu mô hình luật sư chuyên sâu về thời vụ, ngăn cản các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận dịch vụ luật sư nội bộ bán thời gian với chi phí hợp lý. Do đó, đề nghị không phân biệt đối xử với luật sư cá nhân, đừng coi họ là "con rơi" trong giới luật sư và trao quyền chủ động thỏa thuận giữa doanh nghiệp và luật sư cá nhân theo pháp luật lao động. Với luật sư nước ngoài thì lại yêu cầu chỉ hành nghề với tư cách thành viên hoặc ký hợp đồng lao động cho một tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam hoặc một tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, điều này không cho phép họ được ký hợp đồng lao động với nhiều tổ chức hành nghề luật sư không tương xứng với luật sư Việt Nam. Đồng thời, việc tiếp tục hạn chế luật sư nước ngoài không được ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp thông thường của Việt Nam đã cho thấy tư duy bảo hộ cũ, tự làm yếu đi doanh nghiệp trong nước. Trong tiến trình hội nhập buộc doanh nghiệp Việt phải đi thuê luật sư nước ngoài thông qua các hãng luật quốc gia với chi phí đắt đỏ, có thể lên tới hàng trăm USD cho 1 giờ làm việc, làm giảm năng lực phòng thủ pháp lý của dòng vốn nội địa. Dù không vi phạm cam kết nhưng vấn đề đặt ra là liệu có còn phù hợp trong bối cảnh các tập đoàn kinh tế của Việt Nam đã và đang vươn ra toàn cầu, thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp xuyên quốc gia hoặc đối đầu với các vụ kiện phòng vệ thương mại phức tạp tại Mỹ và châu Âu. Do vậy, câu hỏi đặt ra tại sao phải hạn chế khi doanh nghiệp Việt đang có nhu cầu chính đáng là tuyển dụng trực tiếp các luật sư nước ngoài để tư vấn luật quốc tế, luật nước ngoài về làm luật sư nội bộ để bảo vệ tập đoàn một cách trực tiếp, liên tục và bảo mật để doanh nghiệp hội nhập với thế giới.

Tôi xin hết ý kiến. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:


 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Bình chọn
    Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa
    680 người đã bình chọn
    Thống kê truy cập
    Thống kê: 8.149.366
    Trong năm: 2.320.402
    Trong tháng: 202.049
    Trong tuần: 47.870
    Trong ngày: 382
    Online: 126
    Zalo