Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, sáng 22/4, Quốc hội làm việc tại hội trường, thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.
Tham gia góp ý, đồng chí Bùi Văn Dũng, đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết và các nội dung về phát triển văn hóa Việt Nam. Đại biểu cho rằng, đây là bước đi quan trọng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, thể hiện quyết tâm đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng phát biểu
Phân tích sâu hơn, đại biểu nhấn mạnh, văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng kinh tế, đồng thời có vai trò to lớn trong việc định hình nhận thức và thúc đẩy phát triển xã hội. Vì vậy, căn cơ của phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay là xác lập văn hóa trở thành nền tảng của phát triển, chuyển từ “tư duy phát triển nhờ văn hóa” sang “phát triển bằng văn hóa”. Theo đó, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần tập trung vào các trụ cột cốt lõi như xây dựng con người là trung tâm; hình thành hệ giá trị nền tảng; đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế; khơi dậy khát vọng dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Những nội dung này đã được thể hiện trong dự thảo Nghị quyết.
Đánh giá về dự thảo, đại biểu cho rằng văn bản đã thể hiện rõ tư duy đổi mới, chuyển từ “làm văn hóa theo cơ chế bao cấp” sang “quản trị văn hóa theo cơ chế thị trường có định hướng”, đồng thời gắn văn hóa với phát triển kinh tế, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống và tạo đột phá, đại biểu tập trung làm rõ 4 nhóm vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, về nguồn lực và cơ chế phân bổ, cần chuyển từ dàn trải sang tập trung, có trọng điểm và có thể đo lường hiệu quả. Đại biểu chỉ rõ, nếu đầu tư phân tán sẽ khó tạo ra các sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa, do đó cần ưu tiên các lĩnh vực có tính “đòn bẩy” như công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và bảo tồn di sản cấp bách; đồng thời xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể nhằm bảo đảm hiệu quả chi ngân sách.
Thứ hai, về phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chính sách ưu đãi, cần triển khai có chọn lọc và gắn với kết quả đầu ra. Các mô hình khu, cụm sáng tạo văn hóa nên thí điểm tại một số đô thị lớn có đủ điều kiện về thị trường, nhân lực và hạ tầng, tránh dàn trải. Đồng thời, các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cần gắn với sản phẩm cụ thể, giá trị gia tăng và khả năng xuất khẩu, qua đó tạo động lực thực chất, hạn chế cơ chế “xin – cho”.
Thứ ba, về bảo tồn di sản và phát triển nguồn nhân lực, cần chuyển sang cách tiếp cận lấy con người và cộng đồng làm trung tâm. Đại biểu cho rằng, di sản chỉ được bảo vệ bền vững khi người dân được tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động kinh tế văn hóa. Bên cạnh đó, cần có cơ chế đột phá để thu hút, giữ chân nhân tài, nhất là trong lĩnh vực sáng tạo và công nghệ số, cả trong khu vực công và tư, nhằm hình thành hệ sinh thái sáng tạo toàn diện.
Thứ tư, về cơ chế thực hiện và chuyển đổi số, cần bảo đảm tính minh bạch, rõ trách nhiệm và khả năng đo lường. Các cơ chế như đặt hàng sáng tạo, quỹ văn hóa phải được thiết kế với tiêu chí cụ thể, công khai và kiểm soát chặt chẽ. Đặc biệt, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu: “cần sớm xây dựng nền tảng số quốc gia về văn hóa, phát triển sản phẩm văn hóa số có sức cạnh tranh quốc tế và tăng cường bảo vệ bản quyền, coi đây là khâu đột phá để đưa văn hóa Việt Nam ra thị trường toàn cầu”.
Từ những phân tích trên, đại biểu khẳng định, phát triển văn hóa không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà cần được xác định là một động lực phát triển mới của đất nước, nhất là trong bối cảnh kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số. Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ tương hỗ, trong đó kinh tế tạo nền tảng cho văn hóa phát triển, còn văn hóa sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững.
Đại biểu cho rằng, dự thảo Nghị quyết cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cụ thể hơn, khả thi hơn và có thể đo lường hiệu quả. Đồng thời tin tưởng rằng, với sự tiếp thu, chỉnh lý thấu đáo, Nghị quyết sau khi được ban hành sẽ không chỉ nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân mà còn mở ra không gian tăng trưởng mới thông qua công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, tạo “cú hích” quan trọng để chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, đưa văn hóa phát triển ngang hàng với kinh tế và chính trị.