Bài nghiên cứu từ kết quả khảo sát của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh Thanh Hóa
TỪ KHẢO SÁT CƠ SỞ VẬT CHẤT TRƯỜNG HỌC VÙNG VEN BIỂN THANH HÓA
Những vấn đề đặt ra và kiến nghị cho giai đoạn 2026-2030
| Kết quả khảo sát tại 12 xã, phường ven biển và bãi ngang cho thấy mạng lưới trường lớp công lập trên địa bàn đã được các cấp quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân. Trước yêu cầu gia tăng quy mô học sinh, triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và bảo đảm an toàn trong điều kiện khí hậu ven biển, một số hạng mục cần tiếp tục được rà soát, cải tạo, nâng cấp và đầu tư đồng bộ. Từ kết quả khảo sát, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp nhằm tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư và từng bước hoàn thiện điều kiện dạy học giai đoạn 2026-2030. |
1. Kết quả nổi bật từ khảo sát thực tiễn
Thực hiện kế hoạch khảo sát của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh, Đoàn khảo sát đã kiểm tra thực tế, làm việc với cấp ủy, chính quyền địa phương và ban giám hiệu các nhà trường tại 12 xã, phường ven biển, bãi ngang. Khu vực khảo sát gồm 151 cơ sở giáo dục, trong đó có 144 cơ sở công lập thuộc phạm vi đánh giá, với 2.705 lớp và 91.707 học sinh. Dự báo giai đoạn 2026-2030, toàn vùng tăng thêm khoảng 201 lớp và 3.955 học sinh. Đây là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương xác định nhu cầu đầu tư, sắp xếp mạng lưới trường lớp và chuẩn bị điều kiện phục vụ người học trong những năm tới.
Qua khảo sát cho thấy, những năm qua tỉnh, ngành giáo dục và các địa phương đã dành sự quan tâm đáng kể cho việc kiên cố hóa trường lớp, mở rộng mạng lưới và từng bước bổ sung các công trình phục vụ dạy học. Toàn khu vực hiện có 2.417 phòng học cho 2.446 lớp; trong đó 2.228 phòng kiên cố, đạt khoảng 92,18%. Mạng lưới trường học cơ bản phủ đều địa bàn, tạo điều kiện để học sinh được đến trường, góp phần duy trì phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục ở khu vực ven biển.
Cùng với hệ thống phòng học, các trường đã từng bước được đầu tư phòng bộ môn, thư viện, nhà hiệu bộ, công trình vệ sinh, nước sạch, sân chơi, bãi tập và thiết bị dạy học. Toàn vùng có 412 phòng học bộ môn, trong đó 390 phòng kiên cố; 93 trong số 144 trường có thư viện; hệ thống nhà hiệu bộ, hành chính quản trị và phòng hỗ trợ dạy học có 930 phòng. Những kết quả này phản ánh nỗ lực của tỉnh trong việc cải thiện điều kiện dạy và học, nhất là tại các địa bàn còn nhiều khó khăn về nguồn lực và thường xuyên chịu tác động của thiên tai.
Khảo sát cũng cho thấy nhu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất trong giai đoạn tới còn khá lớn. Có 248 phòng học kiên cố đã hết niên hạn sử dụng, 195 phòng chưa bảo đảm diện tích và 189 phòng bán kiên cố hoặc tạm. Đối với phòng học bộ môn, có 45 phòng đã hết niên hạn, 108 phòng chưa bảo đảm diện tích hoặc quy cách và 22 phòng bán kiên cố. Còn 51 trường chưa có thư viện; 73 trong số 144 trường có hệ thống nhà hiệu bộ đáp ứng nhu cầu; 48 trường đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ, trong khi 96 trường cần tiếp tục hoàn thiện các hạng mục liên quan.
Những số liệu trên cần được nhìn nhận trong bối cảnh đặc thù của khu vực ven biển. Công trình trường học tại đây thường xuyên chịu tác động của bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, triều cường, độ ẩm cao và hơi muối. Các yếu tố này làm công trình nhanh xuống cấp hơn, tăng nhu cầu bảo trì, sửa chữa và đặt ra yêu cầu cao hơn đối với vật liệu, kết cấu, chống thấm, thoát nước, hệ thống điện và khả năng chống chịu thiên tai. Vì vậy, cùng một loại công trình nhưng chi phí duy trì điều kiện sử dụng tại vùng ven biển thường lớn hơn so với địa bàn thuận lợi.
2. Những vấn đề cần tiếp tục quan tâm
2.1. Bảo đảm an toàn và duy trì chất lượng công trình
Kết quả khảo sát cho thấy một số công trình được xây dựng từ nhiều năm trước, hiện cần được kiểm tra, đánh giá chất lượng và có phương án xử lý phù hợp. Trong điều kiện chưa thể thay thế đồng loạt, việc phân loại theo mức độ cần thiết là giải pháp khả thi: ưu tiên trước các hạng mục liên quan trực tiếp đến an toàn; tiếp đến là các phòng học, công trình phụ trợ ảnh hưởng đến hoạt động dạy học; sau đó là các hạng mục phục vụ nâng chuẩn, đổi mới phương pháp và hoàn thiện cảnh quan trường học.
Việc đánh giá hiện trạng cần dựa trên chất lượng sử dụng thực tế, năm xây dựng, mức độ ảnh hưởng của môi trường biển và kết quả kiểm tra kỹ thuật. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm số liệu phản ánh đúng nhu cầu, tránh đầu tư dàn trải và tạo cơ sở để xây dựng danh mục ưu tiên có tính thuyết phục. Đối với công trình có dấu hiệu không bảo đảm, nhà trường và địa phương cần chủ động khoanh vùng, cảnh báo, bố trí phương án sử dụng thay thế và báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xử lý kịp thời.
2.2. Đáp ứng nhu cầu tăng quy mô học sinh
Dự báo tăng thêm khoảng 201 lớp và 3.955 học sinh trong giai đoạn 2026-2030 cho thấy áp lực về phòng học sẽ tiếp tục gia tăng, nhất là tại các địa bàn đông dân, đô thị hóa nhanh, có khu dân cư mới, tái định cư hoặc biến động lao động. Việc đầu tư phòng học vì thế cần gắn với dự báo dân số học đường, tốc độ tăng học sinh, khả năng mở rộng đất và phương án tổ chức mạng lưới trường lớp của từng xã, phường.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch đầu tư, cần hạn chế việc xử lý thiếu phòng học theo từng năm học hoặc chỉ bổ sung các hạng mục đơn lẻ. Phương án phù hợp hơn là xác định năng lực tiếp nhận cần thiết cho cả giai đoạn, từ đó chủ động chuẩn bị quỹ đất, thiết kế dự án và bố trí vốn theo tiến độ. Đối với những trường không còn khả năng mở rộng tại vị trí hiện hữu, cần nghiên cứu phương án mở rộng khuôn viên, hoán đổi đất, sắp xếp điểm trường hoặc đầu tư cơ sở mới trên cơ sở thuận lợi cho người học và phù hợp quy hoạch địa phương.
2.3. Hoàn thiện điều kiện triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu tăng hoạt động thực hành, trải nghiệm, Tin học, Ngoại ngữ, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, STEM, giáo dục thể chất và hướng nghiệp. Vì vậy, nhu cầu đầu tư không chỉ dừng ở phòng học văn hóa mà còn bao gồm phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị, hệ thống điện, đường truyền, ánh sáng, bàn ghế, tủ lưu trữ và nhân lực sử dụng thiết bị.
Theo tổng hợp khảo sát, nhu cầu đầu tư phòng học bộ môn giai đoạn 2026-2030 là 544 phòng, gồm 186 phòng cần cải tạo, nâng cấp và 358 phòng cần xây mới. Đây là khối lượng lớn, cần có lộ trình phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực. Việc mua sắm thiết bị nên được thực hiện đồng bộ với điều kiện phòng học và hạ tầng kỹ thuật, tránh tình trạng thiết bị được trang cấp nhưng chưa có không gian phù hợp để lắp đặt, bảo quản hoặc khai thác hiệu quả.
2.4. Đầu tư đồng bộ công trình phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật
Nhà vệ sinh, nước sạch, điện, thoát nước, tường rào, cổng trường, sân chơi, bãi tập, bếp ăn bán trú và phòng cháy, chữa cháy là các điều kiện gắn trực tiếp với sức khỏe, an toàn và chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục. Đối với trường mầm non và tiểu học, các hạng mục này còn quyết định khả năng tổ chức bán trú, dạy học hai buổi mỗi ngày và chăm sóc học sinh.
Kết quả khảo sát cho thấy nhiều trường đã được đầu tư từng bước nhưng chưa đồng bộ giữa công trình chính và công trình phụ trợ. Vì vậy, trong các dự án cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới cần xác định đầy đủ các cấu phần ngay từ bước lập chủ trương đầu tư. Một phòng học mới chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối với hệ thống điện an toàn, nước sạch, thoát nước, nhà vệ sinh, sân chơi và các điều kiện phòng cháy, chữa cháy phù hợp.
3. Kiến nghị, đề xuất
3.1. Xây dựng cơ chế hỗ trợ có mục tiêu cho giai đoạn 2026-2030
Trên cơ sở kết quả khảo sát, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành và UBND các xã, phường tiếp tục rà soát toàn diện hiện trạng cơ sở vật chất trường học công lập khu vực ven biển, bãi ngang; thống nhất số liệu về phòng học, phòng bộ môn, thư viện, công trình phụ trợ, năm xây dựng, tình trạng sử dụng, quỹ đất và nhu cầu đầu tư. Kết quả rà soát là căn cứ để nghiên cứu cơ chế hỗ trợ có mục tiêu hoặc chương trình đầu tư phù hợp trong giai đoạn 2026-2030.
Danh mục đầu tư nên được phân thành ba nhóm ưu tiên. Nhóm thứ nhất là các hạng mục cần xử lý để bảo đảm an toàn. Nhóm thứ hai là các hạng mục nhằm đáp ứng tiêu chuẩn cơ sở vật chất tối thiểu, duy trì hoạt động dạy học ổn định. Nhóm thứ ba là các công trình phục vụ hoàn thiện trường chuẩn quốc gia, phòng bộ môn, thư viện, thiết bị, chuyển đổi số, giáo dục thể chất và cảnh quan. Việc phân nhóm giúp các cấp có thẩm quyền chủ động lựa chọn thứ tự đầu tư, phù hợp khả năng cân đối ngân sách.
3.2. Ưu tiên kiểm tra, đánh giá các công trình sử dụng lâu năm
Đề nghị cơ quan chuyên môn phối hợp với địa phương hướng dẫn kiểm tra, đánh giá an toàn đối với các hạng mục xây dựng lâu năm, trước hết là công trình có biểu hiện nứt, thấm, dột, hệ thống điện không bảo đảm, tường rào, nhà vệ sinh hoặc mái công trình cần sửa chữa. Trên cơ sở kết quả đánh giá, xác định rõ công trình có thể tiếp tục sử dụng, cần sửa chữa, cải tạo, thay thế hoặc bố trí phương án sử dụng tạm thời.
Song song với việc xử lý các hạng mục cần thiết, cần hình thành cơ chế quản lý công trình theo vòng đời, trong đó quy định rõ trách nhiệm kiểm tra thường xuyên, bảo trì định kỳ, cập nhật hiện trạng và báo cáo nguy cơ. Bố trí kinh phí bảo trì hợp lý sẽ giúp xử lý sớm các hư hỏng nhỏ, kéo dài tuổi thọ công trình và hạn chế phát sinh nhu cầu sửa chữa lớn.
3.3. Bố trí nguồn lực tập trung, phù hợp khả năng cân đối ngân sách
Trong xây dựng dự toán ngân sách hằng năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn, đề nghị ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn ven biển, bãi ngang có nhu cầu lớn nhưng khả năng tự cân đối và xã hội hóa còn hạn chế. Việc phân bổ vốn cần căn cứ đồng thời vào mức độ cần thiết của công trình, quy mô học sinh, tốc độ tăng, khả năng mở rộng đất, điều kiện kinh tế - xã hội và nguồn lực đối ứng của địa phương.
Đối với các dự án có quy mô lớn, cần chuẩn bị kỹ hồ sơ, xác định rõ tổng mức đầu tư, khả năng cân đối vốn và tiến độ thực hiện. Tránh bố trí vốn quá phân tán dẫn đến kéo dài thời gian thi công hoặc công trình hoàn thành nhưng thiếu hạng mục phụ trợ. Khuyến khích huy động nguồn lực hợp pháp từ tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch và phù hợp điều kiện thực tế của người dân vùng bãi ngang.
3.4. Bảo đảm quỹ đất giáo dục trong quy hoạch địa phương
UBND các xã, phường cần rà soát quy hoạch sử dụng đất, xác định nhu cầu mở rộng trường học theo dự báo số lớp, số học sinh và định hướng phát triển dân cư. Đối với địa bàn đô thị hóa nhanh, việc giữ quỹ đất giáo dục cần được thực hiện sớm, tránh để các khu dân cư hình thành nhưng thiếu diện tích trường học hoặc không còn khả năng bổ sung công trình phụ trợ.
Đối với trường có khuôn viên hạn chế, cần đánh giá tổng thể phương án sửa chữa, mở rộng, sắp xếp lại điểm trường hoặc đầu tư cơ sở mới. Quyết định đầu tư phải bảo đảm thuận lợi cho học sinh đi học, phù hợp điều kiện giao thông, bán kính phục vụ, yêu cầu an toàn và hiệu quả sử dụng lâu dài.
3.5. Chuẩn hóa dữ liệu và tăng cường phối hợp trong tổ chức thực hiện
Đề nghị ngành giáo dục xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về cơ sở vật chất trường học vùng ven biển, bãi ngang; cập nhật định kỳ các chỉ tiêu về số phòng, năm xây dựng, diện tích, tình trạng sử dụng, thiết bị, hạ tầng kỹ thuật, quỹ đất và nhu cầu đầu tư. Dữ liệu cần được kết nối với dự báo học sinh và kế hoạch đầu tư công để phục vụ quản lý, theo dõi và giám sát.
Sự phối hợp giữa ngành giáo dục, tài chính, xây dựng và chính quyền cơ sở có ý nghĩa quyết định. Ngành giáo dục xác định nhu cầu chuyên môn và tiêu chuẩn sử dụng; cơ quan xây dựng hướng dẫn đánh giá chất lượng, giải pháp kỹ thuật, vật liệu phù hợp môi trường biển; cơ quan tài chính tham mưu nguồn lực; địa phương chịu trách nhiệm về dữ liệu hiện trạng, quỹ đất, bảo trì và tổ chức thực hiện. Phân công rõ trách nhiệm sẽ giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
4. Kết luận
Kết quả khảo sát tại 12 xã, phường ven biển và bãi ngang cho thấy cơ sở vật chất trường học trên địa bàn đã được quan tâm đầu tư, mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân và góp phần quan trọng vào kết quả phát triển giáo dục của tỉnh. Đồng thời, khảo sát đã cung cấp thêm dữ liệu thực tiễn để nhận diện những hạng mục cần tiếp tục hoàn thiện trước yêu cầu tăng quy mô học sinh, đổi mới chương trình giáo dục và thích ứng với điều kiện khí hậu ven biển.
Trong giai đoạn 2026-2030, việc đầu tư cần được thực hiện theo hướng tập trung, có thứ tự ưu tiên, bảo đảm an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu và từng bước nâng cao chất lượng. Cùng với bố trí nguồn lực, cần quan tâm kiểm tra công trình sử dụng lâu năm, bảo trì định kỳ, đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, giữ quỹ đất giáo dục và chuẩn hóa dữ liệu. Các kiến nghị từ khảo sát, khi được nghiên cứu và triển khai phù hợp, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo môi trường học tập an toàn, thuận lợi cho học sinh vùng ven biển và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển giáo dục bền vững của tỉnh Thanh Hóa.
Nguồn số liệu: Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trường phổ thông có nhiều cấp học công lập thuộc các xã, phường vùng ven biển; các xã, phường bãi ngang ven biển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh, tháng 5/2026.