Ngày 10/9/2026, tại Kỳ họp thứ 6, HĐND tỉnh Thanh Hóa khóa XIX đã thông qua Nghị quyết số 76/NQ-HĐND về dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2026 nguồn vốn ngân sách trung ương và Nghị quyết số 77/NQ-HĐND về phân bổ dự toán chi thường xuyên từ nguồn ngân sách trung ương năm 2026 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Đây là bước chuyển quan trọng từ khung nguyên tắc, tiêu chí, định mức tại Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND sang danh mục, nhiệm vụ và mức vốn cụ thể; đồng thời đặt ra yêu cầu cao về tiến độ, kỷ luật ngân sách, hiệu quả sau đầu tư và giám sát đến cùng kết quả thụ hưởng của Nhân dân.
Văn hóa ngày càng được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực của phát triển bền vững. Đối với Thanh Hóa, yêu cầu phát triển văn hóa mang tính đa chiều: bảo tồn hệ thống di sản phong phú; hoàn thiện thiết chế văn hóa cơ sở; thu hẹp chênh lệch về mức hưởng thụ giữa miền núi, đồng bằng, ven biển và đô thị; đồng thời tạo điều kiện để văn hóa gắn kết hiệu quả hơn với du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số.

Các đại biểu biểu HĐND tỉnh quyết nghị thông qua các nghị quyết tại kỳ họp thứ Sáu
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu ưu tiên bố trí nguồn lực nhà nước, huy động nguồn lực xã hội, xây dựng đồng bộ thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa của người dân. Ở cấp địa phương, Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của HĐND tỉnh đã xác lập nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Tuy nhiên, một cơ chế phân bổ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa kịp thời thành kế hoạch vốn, dự toán, danh mục và nhiệm vụ có thể triển khai.
Trong ý nghĩa đó, Nghị quyết số 76 và Nghị quyết số 77 không phải hai quyết định ngân sách tách rời. Hai nghị quyết tạo thành một cặp công cụ chính sách, kết nối đầu tư hình thành, cải tạo tài sản với kinh phí thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, qua đó đưa chủ trương phát triển văn hóa đến gần hơn với đời sống cộng đồng.
Từ khung phân bổ đến quyết định nguồn lực cụ thể
Theo Quyết định số 1039/QĐ-TTg ngày 11/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Thanh Hóa được giao kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương và bổ sung dự toán chi thường xuyên để thực hiện Chương trình trong năm 2026. Việc HĐND tỉnh xem xét hai nghị quyết tại Kỳ họp thứ 6 vừa đáp ứng yêu cầu pháp lý về thẩm quyền, vừa tạo cơ sở để UBND tỉnh giao vốn, giao dự toán và tổ chức thực hiện trong thời gian còn lại của năm.
Bối cảnh pháp lý tại thời điểm ban hành có một điểm cần đặc biệt lưu ý. Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035, thay thế Nghị quyết số 162/2024/QH15. Quy định chuyển tiếp cho phép kế hoạch, dự toán, nhiệm vụ, dự án và các nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2026 tiếp tục được thực hiện, thanh toán, quyết toán theo cơ chế của các Chương trình trước hợp nhất đến khi hoàn thành. Việc nhận diện và viện dẫn đúng cơ chế chuyển tiếp là điều kiện để dòng vốn không bị gián đoạn nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất trong quản lý.
Nghị quyết số 76 tạo nền tảng vật chất cho văn hóa cơ sở
Nghị quyết số 76/NQ-HĐND thống nhất dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2026 nguồn vốn ngân sách trung ương với tổng mức 297.597 triệu đồng. Danh mục kèm theo cho thấy nguồn lực tập trung nhiều vào cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà văn hóa, khu thể thao, sân vận động, điểm vui chơi cho trẻ em, các hạng mục phụ trợ và một số nhiệm vụ bảo tồn, tu bổ di tích. Định hướng này bám sát nhu cầu đang hiện hữu tại cơ sở, nhất là sau sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại thôn, tổ dân phố, khi nhiều thiết chế cũ không còn đáp ứng quy mô dân số, diện tích phục vụ hoặc yêu cầu an toàn.
Giá trị của nghị quyết không chỉ nằm ở số vốn được bố trí mà còn ở cách nguồn lực được đưa đến các công trình có địa chỉ, quy mô và nội dung đầu tư cụ thể. Đây là điều kiện để chuyển từ phân bổ theo tổng mức sang quản lý theo dự án, từ đó xác định rõ chủ đầu tư, tiến độ, khối lượng, trách nhiệm giải ngân và tài sản hình thành sau đầu tư. Đồng thời, danh mục cụ thể cũng tạo cơ sở để đại biểu HĐND, Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng dân cư theo dõi, giám sát.
Tuy vậy, đầu tư công chỉ phát huy hiệu quả khi dự án đủ thủ tục, có mặt bằng, có khả năng hoàn thành và giải ngân trong thời hạn kế hoạch. Nghị quyết được ban hành vào tháng 9/2026, vì vậy áp lực thời gian là rất lớn. Nếu chuẩn bị đầu tư chưa đầy đủ hoặc năng lực chủ đầu tư cấp cơ sở không đáp ứng, nguy cơ chậm giải ngân, phải điều chỉnh vốn, kéo dài công trình hoặc làm giảm chất lượng đầu tư là hiện hữu. Đây là điểm phải được kiểm soát ngay từ khâu giao kế hoạch vốn.
Nghị quyết số 77 đưa nguồn lực hoạt động về gần cộng đồng
Nghị quyết số 77/NQ-HĐND phân bổ 112.944 triệu đồng dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương năm 2026, trong đó 22.588,8 triệu đồng cho các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, chiếm 20%; 90.355,2 triệu đồng cho ngân sách các xã, phường, chiếm 80%. Cơ cấu này thể hiện rõ định hướng đưa phần lớn nguồn lực về cấp trực tiếp tổ chức hoạt động và phục vụ người dân.
Việc dành 80% nguồn chi thường xuyên cho cấp xã có ý nghĩa trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cấp xã không chỉ là đơn vị thụ hưởng mà còn là nơi xác định đúng nhu cầu, lựa chọn nội dung, huy động sự tham gia của cộng đồng và chịu trách nhiệm trực tiếp về hiệu quả hoạt động. Khi nguồn lực được phân bổ theo đề xuất nhiệm vụ và không vượt mức vốn xác định theo tiêu chí, định mức tại Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND, cơ chế này góp phần hạn chế phân bổ bình quân và tăng sự gắn kết giữa nguồn tiền với sản phẩm đầu ra.
Ý nghĩa chính sách từ sự kết hợp hai nguồn vốn
Thứ nhất, hai nghị quyết hoàn thiện chuỗi thể chế hóa từ chủ trương đến thực thi. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập định hướng lớn; Chương trình mục tiêu quốc gia xác định mục tiêu, nhiệm vụ; Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND thiết lập nguyên tắc, tiêu chí, định mức; còn Nghị quyết số 76 và Nghị quyết số 77 chuyển các nguyên tắc đó thành nguồn lực và địa chỉ thực hiện cụ thể. Chuỗi chính sách này tạo điều kiện để việc giám sát không dừng ở kiểm tra thủ tục mà có thể đối chiếu từ mục tiêu ban đầu đến kết quả cuối cùng.
Thứ hai, hai nghị quyết tạo khả năng xử lý đồng thời hai điểm nghẽn của phát triển văn hóa: thiếu, yếu về thiết chế và hạn chế về hoạt động. Một nhà văn hóa được sửa chữa nhưng thiếu chương trình hoạt động, thiết bị và người tổ chức sẽ khó phát huy công năng; ngược lại, có kinh phí hoạt động nhưng không gian xuống cấp, thiếu an toàn hoặc không đủ sức chứa cũng làm giảm hiệu quả. Sự kết hợp giữa vốn đầu tư công và chi thường xuyên vì vậy cần được quản trị theo cùng mục tiêu phục vụ cộng đồng, dù mỗi nguồn vốn phải tuân thủ chế độ quản lý riêng.
Thứ ba, cơ chế phân bổ góp phần thu hẹp chênh lệch hưởng thụ văn hóa. Thanh Hóa có địa bàn rộng, dân số lớn, điều kiện phát triển không đồng đều. Việc sử dụng tiêu chí về loại hình đơn vị hành chính, dân số, diện tích, mức độ khó khăn và trách nhiệm bảo tồn di tích giúp nguồn lực phản ánh sát hơn nhu cầu từng địa bàn. Đặc biệt, tỷ trọng nguồn chi dành cho cấp xã tạo điều kiện để người dân ở vùng miền núi, vùng xa và địa bàn sau sắp xếp được tiếp cận thiết chế, hoạt động văn hóa phù hợp hơn.
Thứ tư, danh mục và mức vốn cụ thể nâng cao tính công khai và khả năng giám sát. Mỗi dự án, nhiệm vụ phải được xem xét không chỉ về đúng đối tượng, đúng tiêu chí mà còn về khả năng hoàn thành, số người được phục vụ, tần suất sử dụng và chi phí vận hành sau đầu tư. Đây là cơ sở để chuyển giám sát từ việc hỏi “đã chi bao nhiêu” sang đánh giá “nguồn lực đã tạo ra thay đổi gì”.
Một số kiến nghị để nguồn lực tạo ra kết quả thực chất
Thứ nhất, UBND tỉnh cần giao kế hoạch vốn và dự toán ngay sau khi nghị quyết được ban hành, đồng thời rà soát từng dự án, nhiệm vụ theo ba điều kiện tối thiểu: đúng mục tiêu và đối tượng của Chương trình; đầy đủ thủ tục để thực hiện; có khả năng giải ngân và tạo sản phẩm trong thời hạn. Không giao hoặc kiên quyết điều chỉnh đối với nội dung chưa đủ điều kiện, không còn phù hợp hoặc không có khả năng hoàn thành.
Thứ hai, Sở Tài chính và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần xây dựng cơ chế theo dõi chung cho cả hai nghị quyết, nhưng tách rõ chế độ quản lý vốn đầu tư công và chi thường xuyên. Mỗi danh mục cần có mã theo dõi, chủ đầu tư hoặc đơn vị sử dụng ngân sách, mốc tiến độ, giá trị giải ngân, sản phẩm đầu ra và trạng thái xử lý vướng mắc. Dữ liệu theo dõi cần được cập nhật định kỳ để phục vụ điều hành và giám sát.
Thứ ba, cần kiểm soát chặt việc lồng ghép nguồn vốn. Trước khi giao vốn và khi nghiệm thu, phải đối chiếu với các chương trình, dự án, nguồn ngân sách khác; xác định rõ phần việc, khối lượng và nguồn chi trả; không để trùng lặp, thay thế trách nhiệm của ngân sách địa phương hoặc sử dụng vốn sai tính chất.
Thứ tư, đối với thiết chế văn hóa sau đầu tư, cần đồng thời phê duyệt hoặc hoàn thiện phương án quản lý, vận hành và khai thác. Phương án phải xác định đơn vị quản lý, lịch hoạt động, đối tượng phục vụ, nguồn kinh phí duy trì, trách nhiệm bảo quản tài sản và chỉ tiêu sử dụng. Đây nên được coi là một điều kiện đánh giá hoàn thành dự án, không phải công việc phát sinh sau khi công trình đã bàn giao.
Thứ năm, cần hỗ trợ có trọng tâm cho cấp xã về hồ sơ, thủ tục, quản lý dự án và thanh quyết toán; tổ chức hướng dẫn theo nhóm nhiệm vụ thay vì chỉ ban hành văn bản chung. Với các địa phương có nguy cơ chậm, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải theo dõi sớm, hướng dẫn trực tiếp và đề xuất điều chỉnh trước khi hết thời hạn giải ngân.
Thứ sáu, hoạt động giám sát của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh cần tập trung vào kết quả cuối cùng. Bên cạnh tỷ lệ giải ngân, cần lựa chọn một số chỉ số thực chất như số thiết chế được đưa vào sử dụng, tỷ lệ công trình hoạt động thường xuyên, số người dân thụ hưởng, mức độ đáp ứng sau sắp xếp địa bàn, tình trạng trùng lặp nguồn vốn và số nhiệm vụ phải điều chỉnh. Những dự án chậm hoặc sử dụng kém hiệu quả cần được theo dõi đến khi xử lý dứt điểm.
Từ quyết định ngân sách đến giá trị văn hóa trong đời sống
Nghị quyết số 76/NQ-HĐND và Nghị quyết số 77/NQ-HĐND đánh dấu bước chuyển từ xây dựng cơ chế sang tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tổng nguồn lực 410.541 triệu đồng là điều kiện quan trọng, nhưng không tự thân bảo đảm hiệu quả. Giá trị của hai nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi mỗi dự án hoàn thành đúng chất lượng, mỗi khoản chi tạo ra sản phẩm có thể kiểm chứng và mỗi thiết chế thực sự trở thành không gian sinh hoạt thường xuyên của cộng đồng.
Từ góc độ quản trị, yêu cầu quan trọng nhất trong giai đoạn tới là giữ được sự thống nhất giữa ba yếu tố: đúng pháp luật, đúng tiến độ và đúng nhu cầu. Đúng pháp luật để bảo đảm kỷ luật ngân sách; đúng tiến độ để nguồn lực được hấp thụ kịp thời; đúng nhu cầu để đầu tư không dàn trải, hình thức. Khi ba yêu cầu này được kiểm soát bằng trách nhiệm rõ ràng và cơ chế giám sát liên tục, hai nghị quyết sẽ không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt về vốn mà còn góp phần tạo nền tảng bền vững cho phát triển văn hóa Thanh Hóa trong giai đoạn mới.