Cụm công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tạo lập mặt bằng sản xuất tập trung, thu hút doanh nghiệp, giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương. Tuy nhiên, kết quả giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Thanh Hóa cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình phát triển cụm công nghiệp vẫn còn không ít điểm nghẽn cần được nhận diện đầy đủ và xử lý căn cơ, từ quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai đến năng lực chủ đầu tư và hiệu quả khai thác sau đầu tư.
Từng bước hình thành không gian sản xuất công nghiệp tại các địa phương
Thực hiện Kế hoạch số 723/KH-KTNS ngày 24/4/2026, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã tiến hành giám sát tình hình thu hút đầu tư, tiến độ triển khai thực hiện và hoạt động của các cụm công nghiệp thông qua nghiên cứu báo cáo của Sở Công Thương, UBND các xã, phường, các chủ đầu tư hạ tầng; đồng thời tổ chức giám sát trực tiếp tại Sở Công Thương và một số địa phương có cụm công nghiệp.
Kết quả giám sát cho thấy, việc hình thành hệ thống cụm công nghiệp đã bước đầu tạo lập quỹ đất sản xuất tập trung tại nhiều địa bàn, nhất là khu vực đồng bằng và ven biển, nơi có điều kiện thuận lợi hơn về giao thông, nguồn lao động, thị trường và khả năng thu hút đầu tư. Nhiều cụm công nghiệp đã thu hút được các dự án thứ cấp, tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương.
Theo Quy hoạch tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/QĐ-TTg, Thanh Hóa được quy hoạch 126 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 5.893,65 ha. Đến tháng 3/2026, toàn tỉnh đã thành lập 47 cụm công nghiệp trong quy hoạch, với tổng diện tích khoảng 1.684 ha và vốn đầu tư hạ tầng đăng ký khoảng 12.618 tỷ đồng; ngoài ra, có 2 cụm công nghiệp được thành lập trước khi Quy hoạch tỉnh được phê duyệt. Riêng trong giai đoạn 2020-2025, tỉnh đã thành lập 34 cụm công nghiệp, tổng diện tích khoảng 1.346,6 ha.
Việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh tại Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026 tiếp tục cơ cấu lại mạng lưới cụm công nghiệp theo hướng thực chất và khả thi hơn. Theo đó, 51 cụm được đưa ra khỏi quy hoạch, 24 cụm được bổ sung mới; đến năm 2030, toàn tỉnh quy hoạch 89 cụm công nghiệp với diện tích khoảng 4.204 ha và sau năm 2030 là 99 cụm với tổng diện tích khoảng 4.776 ha. Việc điều chỉnh này không chỉ là thay đổi về số lượng, mà còn đặt ra yêu cầu rà soát lại vị trí, nhu cầu thị trường, khả năng giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối và hiệu quả sử dụng đất của từng cụm.
Nguồn lực đầu tư được huy động nhưng tiến độ còn chưa đồng đều
Phát triển cụm công nghiệp tại Thanh Hóa chủ yếu dựa trên nguồn lực xã hội hóa. Đến tháng 3/2026, vốn thực hiện đầu tư hạ tầng đạt khoảng 5.610 tỷ đồng, tương đương 44,5% tổng vốn đăng ký. Đáng chú ý, mức độ triển khai có sự chênh lệch khá lớn giữa các khu vực: khu vực đồng bằng đạt khoảng 50,9% vốn đăng ký; khu vực ven biển đạt 47,4%, trong khi khu vực miền núi mới đạt khoảng 26,1%.
Sự khác biệt này cho thấy khả năng triển khai cụm công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào vị trí địa lý, hạ tầng giao thông, khả năng cung ứng lao động, chi phí san lấp, thị trường cho thuê đất và sức hấp dẫn đối với các dự án thứ cấp. Đối với khu vực miền núi, nếu không có định hướng ngành nghề phù hợp với vùng nguyên liệu, lao động tại chỗ và hệ thống giao thông liên vùng, việc thu hút đầu tư sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Đến thời điểm giám sát, có 48 cụm công nghiệp đang triển khai đầu tư theo các mức độ khác nhau và 1 cụm phải tạm dừng do vướng quy hoạch. Một số cụm đã cơ bản hoàn thành hạ tầng, thu hút được dự án thứ cấp và đi vào hoạt động; trong khi nhiều cụm mới hoàn thành giải phóng mặt bằng một phần, đang thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất hoặc vẫn trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Kết quả thu hút dự án thứ cấp cũng đã có những điểm sáng. Có 12 cụm công nghiệp thu hút được dự án thứ cấp, với tỷ lệ lấp đầy bình quân khoảng 64%. Một số cụm có tỷ lệ lấp đầy cao như cụm công nghiệp thị trấn Vạn Hà, Thái - Thắng, Bắc Hoằng Hóa, thị trấn Quán Lào; một số cụm đang đầu tư hạ tầng nhưng đã thu hút được dự án quy mô lớn, như cụm công nghiệp Vạn Thắng - Yên Thọ với dự án sản xuất gốm sứ sử dụng toàn bộ diện tích đất công nghiệp của cụm.
Hoạt động giám sát góp phần thúc đẩy chuyển biến
Một điểm đáng chú ý là sau khi HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 482/NQ-HĐND và UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 36/KH-UBND, công tác theo dõi, đôn đốc tiến độ các cụm công nghiệp từng bước đi vào nền nếp hơn. Nhiệm vụ, trách nhiệm và thời gian hoàn thành đối với từng cụm được xác định cụ thể; một số chủ đầu tư không còn năng lực đã được xem xét xử lý, thu hồi; việc phân nhóm cụm công nghiệp theo tiến độ thực hiện được thực hiện rõ hơn.
Đặc biệt, sau khi Ban Kinh tế - Ngân sách triển khai hoạt động giám sát theo Kế hoạch số 723/KH-KTNS, công tác rà soát, cập nhật tiến độ và tháo gỡ vướng mắc tiếp tục có những chuyển biến. Đến tháng 6/2026, vốn thực hiện đầu tư hạ tầng đạt khoảng 6.044 tỷ đồng, tăng khoảng 434 tỷ đồng so với tháng 3/2026 và bằng khoảng 48% tổng vốn đăng ký đầu tư hạ tầng. Số cụm công nghiệp đã cơ bản hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, đã và đang thu hút dự án thứ cấp tăng từ 10 lên 12 cụm. Các cụm công nghiệp đã thu hút 45 dự án thứ cấp, với tổng vốn đăng ký khoảng 20.807 tỷ đồng.
Những kết quả này cho thấy hoạt động giám sát không chỉ nhằm nhận diện tồn tại, hạn chế, mà còn tạo áp lực tích cực, thúc đẩy các cơ quan quản lý, địa phương và chủ đầu tư rà soát lại trách nhiệm, cập nhật tiến độ và tập trung giải quyết các điểm nghẽn. Tuy nhiên, chuyển biến bước đầu cần tiếp tục được duy trì bằng cơ chế theo dõi cụ thể, định lượng được kết quả và xác định rõ thời hạn xử lý đối với từng cụm công nghiệp.
Những điểm nghẽn mang tính hệ thống
Quy hoạch và thành lập cụm công nghiệp có nơi chưa sát thực tiễn
Một trong những vấn đề nổi lên qua giám sát là chất lượng khảo sát, dự báo và lựa chọn vị trí của một số cụm công nghiệp chưa cao. Có cụm được quy hoạch tại khu vực khó giải phóng mặt bằng, địa hình phức tạp, thiếu hạ tầng kết nối hoặc chưa đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các định hướng phát triển khác.
Việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, đưa 51 cụm ra khỏi quy hoạch, phần nào cho thấy một số vị trí được lựa chọn trước đây không còn phù hợp, thiếu khả năng thu hút đầu tư hoặc chồng lấn với định hướng phát triển đô thị, du lịch, khu công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật. Một số khu vực có quỹ đất liền kề, tổng diện tích lớn nhưng được quy hoạch thành nhiều cụm riêng lẻ, trong khi chưa nghiên cứu đầy đủ phương án hình thành khu công nghiệp có hạ tầng đồng bộ và khả năng thu hút các nhà đầu tư chiến lược.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Việc thành lập mới một cụm công nghiệp không thể chỉ căn cứ vào nhu cầu đăng ký của địa phương hoặc nhà đầu tư, mà phải được đánh giá đầy đủ về nhu cầu thị trường, khả năng giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối, nguồn lao động, năng lực tài chính của chủ đầu tư và triển vọng thu hút các dự án thứ cấp.
Giải phóng mặt bằng và thủ tục đất đai vẫn là điểm nghẽn lớn nhất
Nhiều dự án bị chậm do vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất, đất ở xen kẹt, đất có tranh chấp, đất nghĩa trang, mồ mả, tài sản trên đất và sự thay đổi chính sách bồi thường qua các thời kỳ. Đây không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn liên quan đến yếu tố xã hội, tâm lý người dân và năng lực tổ chức thực hiện tại cơ sở.
Bên cạnh đó, việc bố trí chỉ tiêu sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định giá đất cụ thể còn kéo dài. Theo báo cáo của Sở Công Thương, nhiều cụm sau khi được thuê đất phải mất từ 1 đến 4 năm mới có quyết định giá đất cụ thể.
Sự chậm trễ này tạo ra một chuỗi hệ quả: chủ đầu tư chưa thể hoàn thành nghĩa vụ tài chính, khó xác định giá cho thuê lại đất và phương án thu hồi vốn; nhà đầu tư thứ cấp thiếu cơ sở tính toán hiệu quả dự án; ngân hàng gặp khó khăn khi thẩm định phương án tài chính. Vì vậy, có trường hợp mặt bằng đã được giải phóng hoặc hạ tầng đã cơ bản hoàn thành nhưng cụm công nghiệp vẫn chưa thể đưa vào khai thác hiệu quả.
Năng lực chủ đầu tư chưa đồng đều
Một số chủ đầu tư hạ tầng còn hạn chế về năng lực tài chính, kinh nghiệm tổ chức thực hiện và khả năng phối hợp với địa phương; chậm chuyển kinh phí bồi thường, thiếu chủ động hoàn thiện hồ sơ pháp lý hoặc không tập trung đủ nguồn lực thi công. Việc lựa chọn chủ đầu tư tại một số thời điểm chưa đánh giá đầy đủ khả năng thực hiện dự án, dẫn đến dự án phải điều chỉnh tiến độ nhiều lần, thậm chí phải thu hồi và lựa chọn lại chủ đầu tư.
Vì vậy, việc đánh giá chủ đầu tư không nên chỉ căn cứ vào hồ sơ năng lực tại thời điểm lựa chọn, mà phải được thực hiện định kỳ trong suốt quá trình triển khai. Ngoài tiến độ đầu tư hạ tầng, cần đánh giá tỷ lệ lấp đầy, hiệu quả sử dụng đất, số việc làm tạo ra, đóng góp ngân sách, việc chấp hành quy định về đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và mức độ thực hiện các cam kết.
Hiệu quả thu hút dự án thứ cấp chưa đồng đều
Một số cụm công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy cao nhưng ngành nghề chủ yếu vẫn là may mặc, da giày và gia công, sử dụng nhiều lao động nhưng giá trị gia tăng và khả năng liên kết chuỗi còn hạn chế. Trong khi đó, một số cụm ở miền núi có lợi thế về quỹ đất nhưng thiếu lao động, chi phí hạ tầng cao và giao thông kết nối chưa thuận lợi.
Công tác xúc tiến đầu tư tại một số cụm chưa chủ động; thông tin về quỹ đất sạch, giá thuê dự kiến, ngành nghề ưu tiên, nguồn lao động, hạ tầng và chi phí logistics chưa được chuẩn bị đầy đủ. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận của nhà đầu tư thứ cấp và kéo dài thời gian khai thác quỹ đất sau khi hạ tầng đã được đầu tư.
Chuyển trọng tâm từ “thành lập cụm” sang “hiệu quả của cụm”
Từ kết quả giám sát, có thể thấy yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là đẩy nhanh tiến độ xây dựng, mà phải chuyển trọng tâm quản lý sang hiệu quả vận hành của từng cụm công nghiệp.
Trước hết, cần tiếp tục theo dõi riêng từng cụm, xác định đầy đủ các mốc về quy hoạch chi tiết, giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất, giá đất, thi công hạ tầng và thu hút dự án thứ cấp. Mỗi nhiệm vụ phải gắn với cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, trách nhiệm của chủ đầu tư và thời hạn hoàn thành cụ thể.
Thứ hai, cần rà soát toàn diện năng lực, tiến độ và cam kết của các chủ đầu tư; phân biệt rõ dự án chậm do thủ tục của cơ quan nhà nước với dự án chậm do năng lực và trách nhiệm của chủ đầu tư. Đối với trường hợp không đủ năng lực, chậm kéo dài hoặc vi phạm pháp luật, cần kiên quyết xử lý, thay thế hoặc thu hồi theo quy định.
Thứ ba, việc thành lập mới cụm công nghiệp phải bảo đảm tính khả thi ngay từ đầu, nhất là khả năng giải phóng mặt bằng, kết nối điện, nước, giao thông, thoát nước, hạ tầng xã hội và năng lực thu hút đầu tư. Đồng thời, cần định hướng các dự án sản xuất công nghiệp vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp để quản lý tập trung, sử dụng hiệu quả hạ tầng và nâng cao tỷ lệ lấp đầy.
Thứ tư, cần rà soát, đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục về quy hoạch, đất đai, giá đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án. Những thủ tục kéo dài nhiều năm không chỉ làm tăng chi phí đầu tư mà còn làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và bỏ lỡ cơ hội thu hút các dự án thứ cấp.
Thứ năm, Sở Công Thương cần phát huy rõ hơn vai trò cơ quan đầu mối; theo dõi đầy đủ không chỉ tiến độ đầu tư hạ tầng mà cả tỷ lệ lấp đầy, lao động, đóng góp ngân sách, hiệu quả sử dụng đất và tình hình chấp hành pháp luật. Công tác xúc tiến đầu tư cần được thực hiện theo từng vùng, từng cụm và từng nhóm ngành nghề; ưu tiên dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, sử dụng tài nguyên tiết kiệm và thân thiện với môi trường.
Cuối cùng, trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần tăng cường hướng dẫn, tập huấn và bố trí đủ cán bộ chuyên môn cho cấp xã, nhất là đối với các nhiệm vụ phức tạp về đất đai, giải phóng mặt bằng, đầu tư, xây dựng và môi trường. Cấp xã là nơi trực tiếp quản lý địa bàn và xử lý nhiều thủ tục ban đầu; nếu năng lực thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì tiến độ của dự án khó có thể được cải thiện bền vững.
Nâng cao hiệu lực giám sát, gắn kiến nghị với kết quả thực hiện
Phát triển cụm công nghiệp là một quá trình liên ngành, liên cấp và có tác động trực tiếp đến sử dụng đất, môi trường, việc làm, thu ngân sách và không gian phát triển của địa phương. Vì vậy, hiệu quả giám sát không chỉ nằm ở việc chỉ ra tồn tại mà quan trọng hơn là phải theo dõi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Các kiến nghị cần được cụ thể hóa thành kế hoạch, tiến độ và sản phẩm đầu ra; định kỳ đánh giá kết quả đối với từng cụm, từng cơ quan, địa phương và chủ đầu tư. Đối với những vấn đề kéo dài, cần làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm, tránh tình trạng một vướng mắc được phản ánh nhiều lần nhưng không xác định được đầu mối xử lý.
Kết quả giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh cho thấy, Thanh Hóa đã có nền tảng quan trọng để phát triển hệ thống cụm công nghiệp, nhưng dư địa nâng cao hiệu quả còn rất lớn. Giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ phát triển theo số lượng sang phát triển theo chiều sâu; lấy tính khả thi của quy hoạch, tiến độ đưa đất vào sử dụng, tỷ lệ lấp đầy, chất lượng dự án thứ cấp và đóng góp thực tế cho kinh tế - xã hội làm thước đo chủ yếu.
Chỉ khi những điểm nghẽn về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đất đai, giá đất, năng lực chủ đầu tư và hạ tầng kết nối được giải quyết đồng bộ, các cụm công nghiệp mới thực sự trở thành không gian sản xuất hiệu quả, tạo năng lực tăng trưởng mới và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Thanh Hóa.