Bài nghiên cứu từ quá trình thẩm tra và tham mưu ban hành nghị quyết của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh Thanh Hóa

THỂ CHẾ HÓA NGHỊ QUYẾT SỐ 71-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ QUA NGHỊ QUYẾT SỐ 66/NQ-HĐND: GÓC NHÌN TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TỈNH THANH HÓA

Nghị quyết số 66/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa thông qua Đề án phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035 là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Bài viết phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc ban hành nghị quyết; làm rõ các định hướng lớn về hiện đại hóa hệ thống giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo, hoàn thiện mạng lưới trường lớp, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Từ đó, bài viết ghi nhận nỗ lực của tỉnh trong việc chuyển hóa chủ trương của Đảng thành chương trình hành động có mục tiêu, lộ trình và nguồn lực, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trong giai đoạn tới.

Giáo dục và đào tạo luôn được xác định là quốc sách hàng đầu, là nền tảng trực tiếp cho phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo dựng năng lực cạnh tranh dài hạn của mỗi địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và kinh tế tri thức đang tác động sâu sắc đến mô hình tăng trưởng, yêu cầu đổi mới giáo dục không còn chỉ giới hạn trong phạm vi nhà trường, mà đã trở thành một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn phát biểu tại Hội nghị học tập, triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW do Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Ảnh minh họa: nhandan.vn

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của giáo dục, đồng thời đặt ra yêu cầu cụ thể đối với các cấp, các ngành và địa phương. Theo tinh thần đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục; toàn xã hội cùng tham gia chăm lo, đóng góp nguồn lực và giám sát quá trình phát triển giáo dục. Từ góc độ quản trị công, đây là định hướng quan trọng để chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, lấy chất lượng, công bằng và hiệu quả làm trọng tâm.

Đối với Thanh Hóa, yêu cầu cụ thể hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW gắn chặt với định hướng được xác lập trong Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, giáo dục được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giữ vững thành tích giáo dục mũi nhọn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng và phát triển hệ thống đào tạo, dạy nghề theo hướng hiện đại, mở và gắn với nhu cầu phát triển của tỉnh.

Việc HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 66/NQ-HĐND thông qua Đề án phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035 vì vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một văn bản thông qua đề án. Nghị quyết thể hiện bước chuyển từ chủ trương chiến lược sang chính sách địa phương, từ định hướng chung sang hệ thống mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực có thể tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát trong thực tiễn.

Cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc ban hành nghị quyết

Cơ sở chính trị của Nghị quyết số 66/NQ-HĐND được hình thành từ hệ thống chủ trương nhất quán của Trung ương và của tỉnh về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Bên cạnh Nghị quyết số 71-NQ/TW, Đề án còn kế thừa định hướng của Nghị quyết số 29-NQ/TW, Kết luận số 91-KL/TW, Nghị quyết số 58-NQ/TW, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX và các chương trình hành động của Tỉnh ủy. Sự liên thông này cho thấy nghị quyết không được xây dựng như một chính sách đơn lẻ, mà là một bộ phận trong tổng thể chiến lược phát triển con người và nguồn nhân lực của tỉnh.

Về pháp lý, nghị quyết dựa trên Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Giáo dục, Luật Nhà giáo, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước cùng các nghị quyết của Quốc hội và chương trình hành động của Chính phủ. Đây là cơ sở để HĐND tỉnh quyết định chủ trương phát triển ngành, đồng thời bảo đảm mối liên hệ giữa mục tiêu giáo dục với khả năng cân đối nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước.

Về thực tiễn, Thanh Hóa là tỉnh có địa bàn rộng, quy mô dân số lớn, hệ thống đơn vị hành chính cấp xã nhiều, trong đó có số lượng đáng kể xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Dân cư phân bố không đồng đều, điều kiện kinh tế – xã hội giữa các vùng còn khác biệt, tác động trực tiếp đến quy hoạch mạng lưới trường lớp, bố trí đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục. Vì vậy, chính sách phát triển giáo dục của tỉnh cần đồng thời giải quyết hai yêu cầu: nâng cao chất lượng chung và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các nhóm đối tượng.

Những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Mạng lưới cơ sở giáo dục tiếp tục được sắp xếp; đội ngũ nhà giáo từng bước được chuẩn hóa; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia được nâng lên; giáo dục mũi nhọn duy trì vị trí tích cực; công tác phổ cập giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ có chuyển biến. Nhiều năm liền tỉnh có học sinh đạt huy chương tại các kỳ thi Olympic quốc tế, tạo nền tảng đáng kể để đặt ra các mục tiêu cao hơn trong giai đoạn mới.

Từ chủ trương của Bộ Chính trị đến chính sách phát triển giáo dục của địa phương

Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Ở cấp địa phương, để tinh thần đột phá trở thành hành động, cần có quá trình thể chế hóa thông qua các mục tiêu cụ thể, giải pháp khả thi và cơ chế phân công trách nhiệm. Nghị quyết số 66/NQ-HĐND thực hiện chức năng đó bằng việc thông qua một Đề án có phạm vi toàn ngành, xác định rõ mục tiêu đến năm 2030 và định hướng đến năm 2035.

Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng hệ thống giáo dục tỉnh Thanh Hóa hiện đại, công bằng và chất lượng, hướng tới nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục; phát triển toàn diện giáo dục, mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp và đại học, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Cách xác định này cho thấy chất lượng giáo dục được đặt trong mối quan hệ đồng thời với công bằng, hiện đại hóa và phát triển nguồn nhân lực.

Đề án cũng chuyển hóa yêu cầu “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên” thành các nhiệm vụ cụ thể về hoàn thiện mạng lưới, chuẩn hóa đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất, bố trí nhân lực theo môn học, cấp học và vùng miền. Đồng thời, giáo dục được gắn với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh và các lĩnh vực mũi nhọn của tỉnh.

Một điểm quan trọng khác là Đề án tiếp cận giáo dục theo chuỗi liên thông. Giáo dục mầm non và phổ thông tạo nền tảng; giáo dục nghề nghiệp cung cấp nhân lực kỹ năng; giáo dục đại học giữ vai trò đào tạo trình độ cao, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi các bộ phận này được đặt trong cùng một khuôn khổ chính sách, khả năng phối hợp giữa đào tạo, sử dụng lao động và phát triển kinh tế địa phương có điều kiện được nâng cao hơn.

Những định hướng lớn của Nghị quyết số 66/NQ-HĐND

Hoàn thiện mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất

Đề án xác định hoàn thiện mạng lưới trường lớp là một trong những nhiệm vụ nền tảng. Việc sắp xếp cơ sở giáo dục được định hướng theo quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy mô dân số và không gian phát triển của từng địa phương, đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh ở mọi vùng miền. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt đối với một tỉnh có địa bàn rộng, dân cư phân tán và điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục không đồng đều.

Cùng với sắp xếp mạng lưới, Đề án ưu tiên kiên cố hóa, hiện đại hóa trường lớp; bổ sung phòng học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm, không gian sáng tạo, thiết bị ngoại ngữ và tin học; quan tâm các trường nội trú, bán trú, trường ở vùng khó khăn, miền núi và biên giới. Việc đầu tư được đặt trong mối quan hệ với xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, nâng cao an toàn trường học và tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt phù hợp cho giáo viên ở địa bàn xa.

Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

Đội ngũ nhà giáo được xác định là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Đề án đề ra yêu cầu rà soát, dự báo nhu cầu theo cấp học, môn học và địa bàn; xây dựng kế hoạch tuyển dụng, tiếp nhận, điều động và luân chuyển phù hợp; từng bước bảo đảm đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu và nâng cao chất lượng đội ngũ.

Bên cạnh việc bổ sung nhân lực, trọng tâm chính sách là đổi mới tuyển dụng theo hướng cạnh tranh, minh bạch; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy và kỹ năng số; xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ đối với giáo viên giỏi, chuyên gia và nhà khoa học. Đối với vùng khó khăn, việc quan tâm nhà ở công vụ, điều kiện làm việc và cơ chế hỗ trợ phù hợp có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thu hút và giữ chân nhà giáo.

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn

Nghị quyết đặt giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn trong mối quan hệ bổ trợ. Một mặt, Đề án chú trọng chất lượng giáo dục đại trà, phát triển phẩm chất, năng lực, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng sống và trách nhiệm xã hội của học sinh. Mặt khác, tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống giáo dục mũi nhọn, xây dựng hệ thống phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh năng khiếu, nâng cao vai trò của Trường THPT chuyên Lam Sơn.

Cách tiếp cận này cho phép vừa giữ vững thành tích nổi bật, vừa bảo đảm nền tảng chất lượng chung. Việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực; chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng; tăng cường hợp tác với các trường đại học và chuyên gia là những giải pháp quan trọng để nâng chất lượng một cách bền vững.

Hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Đề án xác định giáo dục nghề nghiệp phải gắn chặt hơn với thị trường lao động và nhu cầu của doanh nghiệp. Các cơ sở đào tạo được định hướng sắp xếp tinh gọn, đầu tư có trọng tâm, phát triển ngành nghề phù hợp với các lĩnh vực kinh tế chủ lực và ứng dụng công nghệ cao. Cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp được coi là một công cụ để tăng đào tạo thực hành, nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp và rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo với sử dụng lao động.

Đối với giáo dục đại học, Trường Đại học Hồng Đức được định hướng phát triển thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh. Việc hiện đại hóa hạ tầng, phát triển phòng thí nghiệm, điều chỉnh chương trình theo nhu cầu nhân lực, tăng cường đào tạo bằng tiếng Anh và mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng để giáo dục đại học đóng góp rõ hơn cho mô hình tăng trưởng mới.

Chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo

Một điểm nổi bật của Đề án là dành vị trí rõ ràng cho chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Nhiệm vụ không dừng ở trang bị thiết bị, mà bao gồm hiện đại hóa hạ tầng số, phát triển dữ liệu ngành, kết nối phần mềm quản lý, thí điểm phòng học tương tác, phòng thí nghiệm ảo và nền tảng học tập thích ứng.

Ở cấp quản trị, số hóa hồ sơ, học bạ, văn bằng và quy trình tuyển sinh tạo điều kiện nâng cao tính minh bạch, giảm thủ tục và cải thiện khả năng giám sát. Ở cấp dạy học, công nghệ có thể hỗ trợ cá thể hóa lộ trình học tập, phân tích năng lực người học và nâng cao hiệu quả tư vấn. Tuy nhiên, việc ứng dụng cần đi cùng đào tạo kỹ năng số, an toàn thông tin và các nguyên tắc sử dụng công nghệ có trách nhiệm.

Ngoại ngữ, hội nhập và huy động nguồn lực xã hội

Đề án định hướng nâng cao năng lực ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, mở rộng giáo dục song ngữ ở nơi có điều kiện và tăng cường hợp tác quốc tế. Đây là nội dung phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường hội nhập.

Song song với nguồn lực nhà nước, Đề án khuyến khích xã hội hóa giáo dục, hợp tác công – tư, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và cộng đồng. Cách tiếp cận này không thay thế vai trò bảo đảm của Nhà nước, mà mở rộng nguồn lực và tạo thêm không gian đổi mới, nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển trường ngoài công lập.

Ý nghĩa đối với phát triển giáo dục và nguồn nhân lực Thanh Hóa

Trước hết, Nghị quyết số 66/NQ-HĐND tạo cơ sở chính trị và pháp lý để triển khai một chương trình phát triển giáo dục có tính liên thông, dài hạn. Việc xác định mục tiêu đến năm 2030 và định hướng đến năm 2035 giúp các cơ quan, đơn vị và địa phương có căn cứ xây dựng kế hoạch, lựa chọn nhiệm vụ ưu tiên và bố trí nguồn lực theo lộ trình.

Thứ hai, nghị quyết góp phần củng cố định hướng công bằng trong tiếp cận giáo dục. Khi mạng lưới trường lớp, đội ngũ, cơ sở vật chất và chính sách hỗ trợ được xem xét theo đặc điểm vùng miền, khả năng thu hẹp khoảng cách giữa đô thị, đồng bằng, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được nâng lên. Đây là điều kiện quan trọng để mọi học sinh đều có cơ hội học tập và phát triển phù hợp.

Thứ ba, nghị quyết tạo nền tảng để chuyển mạnh từ giáo dục theo quy mô sang giáo dục theo chất lượng và hiệu quả. Các mục tiêu về chuẩn hóa nhà giáo, trường đạt chuẩn quốc gia, đổi mới phương pháp, năng lực số, ngoại ngữ, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đều hướng tới một hệ thống có khả năng đáp ứng yêu cầu mới của thị trường lao động và xã hội.

Thứ tư, việc gắn giáo dục nghề nghiệp, đại học với doanh nghiệp, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo mở ra khả năng nâng cao đóng góp của giáo dục đối với phát triển kinh tế. Trong dài hạn, chất lượng nguồn nhân lực sẽ là một trong những nhân tố quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của tỉnh.

Nghị quyết số 66/NQ-HĐND cho thấy vai trò của HĐND tỉnh không chỉ ở quyết định chủ trương, mà còn ở việc thiết lập khuôn khổ giám sát. Nghị quyết giao UBND tỉnh tổ chức thực hiện và xác định trách nhiệm giám sát của Thường trực HĐND, các Ban, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh. Cơ chế này tạo một chu trình tương đối đầy đủ từ quyết định chính sách đến thực thi và kiểm tra.

Một số kiến nghị cho giai đoạn tổ chức thực hiện

Để Nghị quyết số 66/NQ-HĐND phát huy đầy đủ giá trị, trước hết cần sớm cụ thể hóa thành kế hoạch triển khai với tiến độ, nhiệm vụ ưu tiên, cơ quan chủ trì, chỉ số kết quả và cơ chế phối hợp rõ ràng. Việc xác định thứ tự ưu tiên có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với các nhiệm vụ về đội ngũ, cơ sở vật chất, trường vùng khó khăn, chuyển đổi số và phát triển giáo dục nghề nghiệp.

Cần tiếp tục bảo đảm nguyên tắc đầu tư có trọng tâm, phù hợp khả năng cân đối nguồn lực và tránh dàn trải. Những nhiệm vụ có tác động trực tiếp đến điều kiện học tập, an toàn trường học, chất lượng đội ngũ và cơ hội tiếp cận giáo dục nên được ưu tiên. Đồng thời, việc huy động nguồn lực xã hội cần thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định và bảo đảm quyền lợi của người học.

Công tác phát triển đội ngũ cần gắn tuyển dụng với dự báo nhu cầu, cơ cấu môn học và điều kiện từng địa bàn. Bên cạnh chính sách thu hút, cần chú trọng môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp, nhà ở công vụ và chế độ hỗ trợ phù hợp đối với giáo viên vùng khó khăn. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định và chất lượng đội ngũ.

Đối với chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, cần triển khai theo lộ trình, lấy hiệu quả giáo dục làm thước đo, đồng thời chú trọng an toàn dữ liệu, đạo đức số và năng lực sử dụng công nghệ của giáo viên, học sinh. Việc đầu tư nền tảng cần đi đôi với chuẩn hóa dữ liệu và khả năng liên thông, tránh tạo thêm gánh nặng hành chính cho nhà trường.

Cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý lao động để cập nhật nhu cầu kỹ năng, điều chỉnh chương trình và tổ chức đào tạo thực hành. Đối với giáo dục đại học và nghề nghiệp, hiệu quả hợp tác nên được đánh giá qua khả năng việc làm, năng lực nghề nghiệp và mức độ đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế trọng điểm.

Nghị quyết số 66/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Thanh Hóa là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị trong điều kiện thực tiễn của địa phương. Thông qua việc xác lập mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện, nghị quyết tạo nền tảng để ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh chuyển sang giai đoạn phát triển theo hướng hiện đại, công bằng, chất lượng và gắn chặt hơn với nhu cầu nguồn nhân lực. Giá trị của nghị quyết không chỉ nằm ở các chỉ tiêu đến năm 2030 hay định hướng đến năm 2035, mà còn ở cách tiếp cận tổng thể: giáo dục mầm non và phổ thông được kết nối với giáo dục nghề nghiệp, đại học, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đây là tiền đề để giáo dục tiếp tục đóng góp vào phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Với sự lãnh đạo thống nhất, sự điều hành chủ động, sự giám sát của HĐND và sự tham gia của toàn xã hội, Nghị quyết số 66/NQ-HĐND có cơ sở để trở thành một trong những công cụ chính sách quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục của tỉnh. Yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là tổ chức thực hiện kiên trì, có trọng tâm, thường xuyên đánh giá và điều chỉnh phù hợp, để các định hướng của nghị quyết từng bước được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong từng nhà trường, từng địa phương và đối với mỗi người học.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

2. Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2026), Nghị quyết số 66/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 về việc thông qua Đề án phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035.

3. Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh Thanh Hóa (2026), Báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết thông qua Đề án phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035.

4. Bộ Chính trị (2020), Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

5. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:


Tin cùng chuyên mục

 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Bình chọn
    Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa
    668 người đã bình chọn
    Thống kê truy cập
    Thống kê: 7.588.584
    Trong năm: 2.275.927
    Trong tháng: 204.600
    Trong tuần: 47.070
    Trong ngày: 272
    Online: 44
    Zalo