Năm 2026, tổng nguồn vốn đầu tư công của Thanh Hóa là 19.347,862 tỷ đồng, cao nhất trong năm năm gần đây, gồm 14.846,617 tỷ đồng kế hoạch vốn năm 2026 và 4.501,245 tỷ đồng vốn năm 2025 kéo dài sang. Với quy mô như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải ngân đủ và đúng hạn, mà còn phải bảo đảm vốn được đưa vào những dự án đủ điều kiện thi công để sớm phát huy hiệu quả. Kết quả giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực, tiến độ giải ngân vẫn còn khoảng cách so với mục tiêu, và phía sau tỷ lệ giải ngân là những điểm nghẽn cần được nhận diện đầy đủ.
Chỉ đạo quyết liệt hơn, nhưng tiến độ chưa đạt mốc đề ra
Thực hiện Kế hoạch số 1245/KH-KTNS ngày 10/8/2026, Ban Kinh tế - Ngân sách đã nghiên cứu báo cáo của Sở Tài chính và các chủ đầu tư, đồng thời khảo sát trực tiếp 18 dự án của 05 chủ đầu tư từ ngày 11/9 đến ngày 23/9/2026. Về phía Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, kế hoạch vốn được giao từ cuối năm 2025, 04 tổ công tác được thành lập và kết quả giải ngân được đưa vào tiêu chí xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2026. Đến ngày 24/9/2026, 98,82% kế hoạch đã được phân bổ chi tiết.

Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh khảo sát thực tế một số dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng
Giải ngân có chuyển biến nhưng chưa tương xứng với mục tiêu. Đến ngày 31/7/2026, kế hoạch vốn năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ giao đạt 40,05%, thấp hơn mức bình quân cả nước là 41,9%. Đến ngày 24/9/2026, toàn tỉnh giải ngân 9.861 tỷ đồng, bằng 50,97% tổng nguồn vốn, vẫn thấp hơn mục tiêu 60% đến hết ngày 30/9; trong kế hoạch năm 2026, vốn ngân sách địa phương đạt 55,31%, còn vốn ngân sách trung ương mới đạt 17,09%. Theo xếp hạng của Bộ Tài chính được báo chí dẫn lại, vị trí của tỉnh đã cải thiện từ thứ 32 trong tháng 6 lên thứ 17 trong tháng 9, song đây là bước tiến về thứ hạng, chưa phải bảo đảm hoàn thành kế hoạch cả năm.
Quỹ thời gian còn lại rất hẹp. Mục tiêu của tỉnh là đạt 80% vào cuối tháng 10, 90% vào cuối tháng 11 và 100% trước ngày 30/12/2026. Tại hội nghị giao ban toàn tỉnh ngày 12/10/2026, UBND tỉnh xác định để đạt mốc 80%, trong 18 ngày còn lại phải giải ngân thêm 5.202,1 tỷ đồng, gấp gần 06 lần tốc độ hiện nay; trong 123 dự án đang thi công của 05 chủ đầu tư lớn có 39 dự án vướng mắc và 09 dự án phải dừng thi công. Đồng thời, từ kỳ báo cáo tháng 10/2026, việc chấm điểm giải ngân các địa phương theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ được áp dụng chính thức, với tiêu chí gồm tỷ lệ giải ngân và mức độ hoàn thành kế hoạch giải ngân đăng ký hằng tháng.
Tỷ lệ giải ngân chưa phản ánh đầy đủ tiến độ thực chất
Theo báo cáo của Sở Tài chính, trong 224 dự án thuộc diện theo dõi, không có dự án nào được xác định chậm tiến độ. Đối chiếu với số liệu giải ngân và kết quả khảo sát, cách xác định này cần được xem xét lại. Trong 131 dự án được xếp “đúng tiến độ”, có 20 dự án được bố trí từ 20 tỷ đồng vốn năm 2026 trở lên nhưng đến ngày 31/7/2026 giải ngân dưới 20%, trong đó 10 dự án chưa giải ngân. Có 22 dự án đã điều chỉnh thời gian thực hiện, 09 dự án điều chỉnh quyết định đầu tư từ 02 lần trở lên; do tiến độ được đánh giá theo thời hạn sau điều chỉnh, nhiều dự án vẫn được xếp “đúng tiến độ” dù đã chậm so với kế hoạch ban đầu. Ngay trong số 18 dự án khảo sát, chủ đầu tư tự xác định dự án Nâng cấp, cải tạo tỉnh lộ 505 chậm 06 tháng, dự án Nâng cấp đê hữu sông Hoàng Km28+760 - Km33+500 chậm 08 tháng; kết quả khảo sát cho thấy 13 trên 18 dự án chậm hoặc có nguy cơ chậm, chủ yếu do bồi thường, giải phóng mặt bằng và nguồn vốn.

Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh khảo sát thực tế một số dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng
Khâu quyết toán cũng chậm: Đến ngày 24/9/2026, 57 trên 104 dự án hoàn thành của 05 chủ đầu tư lớn chưa có quyết toán được duyệt. Kế hoạch cuối năm của một số đơn vị thiếu cơ sở khả thi, như Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông trong 07 tháng trình quyết toán 12 dự án nhưng đặt mục tiêu trình thêm 27 dự án trong 05 tháng còn lại. Một hệ thống theo dõi chỉ dựa vào thời hạn đã điều chỉnh và tỷ lệ giải ngân tại một thời điểm sẽ khó nhận diện sớm những dự án thực sự có nguy cơ.
Giải phóng mặt bằng vẫn là điểm nghẽn tập trung nhất
Theo báo cáo của tỉnh, có 38 dự án đang thi công nhưng chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng (GPMB), trong đó 08 dự án phải tạm dừng. Qua khảo sát, vướng mắc tập trung ở bốn nhóm. Thứ nhất, nhiệm vụ GPMB chuyển về cấp xã sau sắp xếp bị gián đoạn: Tiểu dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Ngọc Lặc, vay vốn Cơ quan Phát triển Pháp, đã GPMB trên 99% diện tích nhưng mặt bằng còn vướng rải rác trên toàn tuyến nên không thi công đồng loạt được. Thứ hai, giá bồi thường đất ở thấp hơn nhiều so với giá đất tái định cư: Tại xã Tiên Trang, giá bồi thường từ 0,8 đến 1,5 triệu đồng/m², trong khi giá đất tái định cư đề xuất từ 6,65 đến 7,2 triệu đồng/m², khiến dự án Đường giao thông từ Quốc lộ 1A đi đường ven biển từ xã Quảng Chính đi xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xương, được bố trí 67 tỷ đồng, chưa giải ngân đến ngày 31/7/2026. Thứ ba, vốn cho GPMB bố trí chưa kịp thời: Dự án Nâng cấp đê hữu sông Hoàng Km28+760 - Km33+500 đến tháng 4/2026 mới được giao vốn.
Kế hoạch vốn chưa sát khả năng thực hiện và rủi ro từ nguồn vốn ngoài ngân sách
Qua rà soát, có 1.289,2 tỷ đồng của 51 dự án được xác định không có khả năng giải ngân; 40 dự án đã hoàn thành còn 138,974 tỷ đồng vốn năm 2026 không có khối lượng để giải ngân. Sở Tài chính đã tham mưu 06 đợt điều chỉnh kế hoạch với tổng số 1.895,779 tỷ đồng, nhưng phần lớn diễn ra khi năm kế hoạch đã qua quá nửa. Riêng vốn ngân sách trung ương kéo dài 3.265,906 tỷ đồng không thuộc diện điều chuyển, nếu không giải ngân hết trước ngày 31/12/2026 sẽ bị hủy dự toán.

Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh khảo sát thực tế một số dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng
Rủi ro lớn hơn nằm ở các dự án phụ thuộc vốn xã hội hóa và vốn vay nước ngoài. Hai dự án Tôn tạo Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Lăng miếu Triệu Tường có vốn xã hội hóa theo phê duyệt 403,67 tỷ đồng, chiếm gần 70% phần xây lắp của mỗi dự án, nhưng mới huy động được 45 tỷ đồng tại dự án Tôn tạo Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh; các gói thầu sử dụng nguồn vốn này chưa thể lựa chọn nhà thầu, và dự án Tôn tạo Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh mới bàn giao 4,08 trên 10,96 ha mặt bằng nên mục tiêu hoàn thành trong năm 2026 không còn khả thi. Với Tiểu dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Ngọc Lặc, vay vốn Cơ quan Phát triển Pháp, nguồn vốn vay lại chưa được ghi kế hoạch; nếu không xử lý kịp, tỉnh có nguy cơ không tạm ứng được 6,935 triệu Euro vốn vay trước thời hạn giải ngân của hiệp định là ngày 31/10/2026. Những trường hợp này cho thấy việc đưa dự án vào kế hoạch phải dựa trên điều kiện đã được bảo đảm về vốn, mặt bằng và thủ tục, không chỉ dựa trên cam kết huy động; khi điều kiện không còn, cần kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền phương án điều chỉnh quy mô, phân kỳ hoặc điểm dừng kỹ thuật.
Kỷ luật hợp đồng và nguồn thu tiền sử dụng đất
Giám sát cũng chỉ ra những hạn chế thuộc trách nhiệm trực tiếp của chủ đầu tư. Chất lượng chuẩn bị đầu tư ở một số dự án chưa bảo đảm, phải điều chỉnh thiết kế trong quá trình thi công, như dự án Đường giao thông từ cầu Thắng Phú (xã Quảng Ngọc) đi Quốc lộ 1A (xã Quảng Bình), huyện Quảng Xương phải bổ sung xử lý nền đất yếu khoảng 246 m. Một số nhà thầu thi công cầm chừng, chưa tập trung nhân lực, máy móc dù đã được bàn giao mặt bằng và được nhắc nhở, trong khi chủ đầu tư chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp theo hợp đồng.

Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh khảo sát thực tế một số dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng
Nguồn thu tiền sử dụng đất điều tiết về ngân sách cấp xã cũng là yếu tố quyết định. Đến ngày 24/9/2026, thu đạt 50,76% dự toán, giải ngân đạt 64,97% số đã thu; 16 xã, phường còn 890,633 tỷ đồng đã thu nhưng chưa giải ngân. Trong 9.486,881 tỷ đồng còn phải giải ngân đến hết năm, 4.534,089 tỷ đồng, khoảng 47,8%, thuộc cấp xã và phụ thuộc tiến độ thu tiền sử dụng đất. Kế hoạch đấu giá chi tiết theo từng khu đất, từng tháng vì vậy có ý nghĩa không kém việc đôn đốc ở cấp tỉnh.
Từ đôn đốc theo mốc đến quản trị theo chất lượng từng dự án
Trước hết, UBND tỉnh cần phân loại dự án hằng tuần theo ba nhóm: Đạt tiến độ, có nguy cơ không đạt và không đạt, trong đó tiến độ được xác định theo cả mốc phê duyệt ban đầu và khối lượng thực hiện, không chỉ theo thời hạn sau điều chỉnh. Phần vốn không có khả năng giải ngân cần được điều chuyển kịp thời cho dự án có khối lượng, ưu tiên bồi thường, GPMB và thanh toán khối lượng hoàn thành; nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh sẽ được trình theo quy định.
Thứ hai, đối với GPMB, cần giao rõ cơ quan chủ trì và thời hạn xử lý từng nhóm vướng mắc về nguồn gốc đất, giá đất, tái định cư; Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn kịp thời hoặc tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh các nội dung vượt thẩm quyền cấp xã. Với dự án có khối lượng GPMB lớn, phức tạp, nên nghiên cứu tách thành dự án độc lập để triển khai trước. Thứ ba, chủ đầu tư đánh giá tiến độ nhà thầu hằng tuần, xử lý theo hợp đồng nhà thầu không đạt cam kết trong 02 tuần liên tiếp, và xử lý hồ sơ nghiệm thu, thanh toán không quá 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thứ tư, đối với dự án sử dụng vốn vay nước ngoài, vốn tài trợ và vốn xã hội hóa, cần rà soát thời hạn hiệp định, cam kết và cơ cấu nguồn vốn trước khi đưa vào kế hoạch năm 2027; chỉ bố trí vốn cho dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư, có phương án GPMB và khả năng giải ngân, đồng thời xác định trách nhiệm khi đăng ký vốn nhưng không hấp thụ được.
| Kết luận: Năm 2026, Thanh Hóa có nguồn lực đầu tư công lớn và sự chỉ đạo ngày càng sát sao, song hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng của từng dự án: Mặt bằng đã có hay chưa, vốn có sát khả năng thực hiện hay không, nhà thầu có đủ lực và bị ràng buộc bởi hợp đồng hay chưa. Khi tiến độ được đo bằng khối lượng thực tế, trách nhiệm gắn với từng dự án và vướng mắc được xử lý theo thời hạn, tỷ lệ giải ngân mới thực sự là kết quả của việc hoàn thành công trình. |